RDSCVN
Đang tải dữ liệu...

Giới thiệu RDSC    |    Tin tức sự kiện    |    Diễn đàn    |    IDMA    |    Video    |    Âm thanh    |    Gallery    |    Slide show

Trưng cầu ý kiến
Dành cho các anh/chị kế toán.
Trong thực tế, Anh/chị dùng phần mềm kế toán chuyên dụng chủ yếu để làm việc gì? Không chọn quá 3 phương án.
 
Hỗ trợ trực tuyến
Trao đổi thảo luận

RDPR và Phát Triển các Tổ chức Cộng đồng tại huyện Quảng Ninh

PMT

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỘI THÚ Y CỘNG ĐỒNG

Phạm Mậu Tài, Quỹ Phát triển Nông thôn và Giảm nghèo huyện Quảng Ninh, Quảng Bình (RDPR)

BÁO CÁO TẠI HỘI THẢO CÁC BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ CÁC TỔ CHỨC CỘNG ĐỒNG

Huế, 15 - 16/12/2005

1. RDPR VÀ CÁC TỔ CHỨC CỘNG ĐỒNG

1.1. Giới thiệu về RDPR

Quỹ Phát Triển Nông Thôn và Giảm Nghèo huyện Quảng Ninh (RDPR) là một tổ chức phi chính phủ, có tư cách pháp nhân, có khuôn dấu và tài khoản tại ngân hàng. RDPR được hình thành và phát triển với đội ngũ cán bộ của văn phòng đại diện của RDSC tại Quảng Bình. RDPR được UBND huyện Quảng Ninh ký Quyết định thành lập và chuẩn y điều lệ hoạt động ngày 03 tháng 7 năm 2003 theo Nghị định 177/1999/NĐ-CP và Quyết định số 56/2000/QĐ-BTC của bộ tài chính. Quỹ phấn đấu góp phần nâng cao không ngừng vào quá trình nâng cao chất lượng cuộc sống của người nông dân và xoá đói giảm nghèo, với trọng tâm là cải thiện thu nhập, điều kiện chăm sóc sức khoẻ, và giáo dục của người nghèo, nhất là đối với phụ nữ và bà con dân tộc thiểu số tại huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình thông qua nâng cao nhận thức, năng lực và xác định giải quyết các nhu cầu thiết yếu của cộng đồng. Quỹ phấn đấu đạt những mục tiêu trên thông qua: a) Tăng cường và phát triển nguồn lực và tài sản của người nghèo. b) Hỗ trợ các tổ chức cộng đồng do người nghèo và cộng đồng lập ra để đáp ứng những nhu cầu của mình. c) Hỗ trợ các tổ chức địa phương như các tổ chức quần chúng, tổ sản xuất, hợp tác xã dịch vụ, tiếp thị và thông tin.

1. 1. Một số kết quả xây dựng tổ chức cộng đồng (CBO)

Kế thừa đội ngũ cán bộ dự án RDSC tại Quảng Bình, thực hiện dự án từ năm 1998 đến năm 2003, RDPR đã tiếp nhận và thực hiện các dự án tại 4 xã nghèo khu vực miền núi và vùng bán sơn địa thuộc huyện Quảng Ninh gồm xã Trường Sơn, Trường Xuân, Vạn Ninh và Hàm Ninh. Đối tượng phục vụ của dự án là nhóm cộng đồng thiệt thòi, đặc biệt là phụ nữ, người nghèo và người dân tộc.

Các tổ chức cộng đồng được hình thành

Một nội dung phát triển nguồn lực và tài sản cho cộng đồng mà RDPR đã phối hợp với Ban phát triển cộng đồng xã thực hiện là khuyến khích cộng đồng hình thành các tổ chức nhằm cung cấp dịch vụ tại chỗ về các lĩnh vực như tín dụng, khuyến nông, thú y, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng (xem bảng 1). Cụ thể trong thời gian từ 1998 và tập trung vào giai đoạn dự án từ năm 2001 đến 2003 dự án đã hình thành được 30 tổ chức cộng đồng tại 4 xã dự án cung cấp dịch vụ trực tiếp tại 42 thôn bản, chiếm 82% tổng số thôn bản. Tổng số thành viên tham gia trực tiếp trong các tổ chức cộng đồng là 1560 người, trong đó chiếm 90% hộ nghèo, 86% nữ và 10% dân tộc Vân kiều.

Bảng 1: Tổ chức cộng đồng được hình thành và hoạt động

Lĩnh vực

Loại hình tổ chức cộng đồng

Số tổ chức cộng đồng

Quản lý

Ban phát triển cộng đồng xã

4

Tín dụng

Quỹ tín dụng phụ nữ

3

Khuyến nông

Hội thú y

Hội IPM

Câu lạc bộ nuôi ong

Tổ sản xuất lúa giống

Tổ sản xuất cây giống

Quỹ nuôi bò quay vòng

Tổ hợp phân bón

3

2

2

2

1

1

3

Y tế

Hội chăm sóc sức khoẻ phụ nữ

Quỹ quay vòng vốn xây dựng Công trình vệ sinh

2

7

Tổng cộng

30

(Nguồn: Báo cáo UBND xã- tháng 7/2005)

1.2. Các lĩnh vực hoạt động của các tổ chức cộng đồng

Lĩnh vực tín dụng: Là những quỹ tín dụng được hình thành và hoạt động do hội phụ nữ xã trực tiếp quản lý với sự tham gia của các thành viên là 100% phụ nữ. Nguồn vốn hoạt động do dự án hỗ trợ ban đầu và đóng góp tiết kiệm tự nguyện của thành viên. Mục đích cho vay chủ yếu là phục vụ sản xuất và phát triển chăn nuôi với lãi suất thấp và cơ chế vay đơn giản, diễn ra tại xã và thôn bản. Các quỹ tín dụng đã phục vụ cho hơn 90% là phụ nữ nghèo tại 18 thôn người Kinh và 2 bản người dân tộc Vân Kiều của 3 xã Trường Sơn, Trường Xuân và Vạn Ninh. Hiện tại quỹ đang duy trì hoạt động tốt, nguồn vốn được tăng trưởng hàng năm, tỷ lệ trả lãi hàng tháng đạt 100%, tỷ lệ trả gốc đạt hơn 95%.

Lĩnh vực khuyến nông: Là bao gồm các tổ chức hoạt động hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động khuyến nông tại địa phương như tổ hợp cung cấp vật tư phân bón, cung cấp cây giống, hạt giống, Hội IPM, hội thú y cộng đồng nhằm cung cấp các dịch vụ bảo vệ cây trồng và chăn nuôi thú y, tuyền truyền và hỗ trợ kĩ thuật cho cộng đồng đến cơ sở thôn bản. Các câu lạc bộ trao đổi kinh nghiệm và hỗ trợ lẫn nhau của nông dân như các câu lạc bộ nuôi ong.

Lĩnh vực y tế: Là các tổ chức hoạt động liên quan đến chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng, đặc biệt là phụ nữ. Bao gồm các tổ chức tuyên truyền kiến thức và kĩ năng về chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng và phụ nữ. Hình thành các quỹ vốn quay vòng xây dựng cộng trình vệ sinh cho hộ gia đình do phụ nữ thôn và xã trực tiếp quản lý.

Lĩnh vực quản lý: Ban phát triển cộng đồng được hình thành tại xã và có nhiệm vụ quản lý và theo dõi hoạt động của các tổ chức cộng đồng tại địa phương. Ban phát triển được đào tạo về các kiến thức và kĩ năng về quản lý phát triển.

1.3. Đặc điểm chung của các tổ chức cộng đồng

o UBND xã quyết định thành lập hoặc thừa nhận sự tồn tại của các CBO

o Ban quản lý của tổ chức và có điều lệ hoạt động

o Thành viên tham gia tự nguyện

o Nguồn vốn được hình thành từ vốn hỗ trợ ban đầu của dự án và đóng góp của thành viên

o Cung cấp dịch vụ đến tận thôn bản

1.4. Đánh giá chung về chất lượng hoạt động của các tổ chức cộng đồng

Tổng hợp từ báo cáo đánh giá tình hình hoạt động các tổ chức cộng đồng tại 4 xã tính đến tháng 11 năm 2005 cho thấy: Tổng số hiện tại có 30 CBO, trong đó có 14 CBO đang duy trì hoạt động cung cấp dịch vụ cho cộng đồng tốt, nguồn vốn được tăng trưởng cao (tăng gần 20%), số lượng thành viên tăng chiếm 47%; có 11 CBO hoạt động ở mức độ trung bình chiếm 37% và có 5 CBO hầu như không hoạt động cung cấp dịch vụ hoặc hoạt động kém, không duy trì sinh hoạt định kỳ chiếm 17%.

1.5. Tác động của các tổ chức cộng đồng tới giảm nghèo

Á˜ Thay đổi phương thức sản xuất kinh doanh mới

Thông qua hoạt động cung cấp dịch vụ của các tổ chức cộng đồng đã tác động và làm thay đổi đến phương thức sản xuất và quy mô sản xuất của người cộng đồng. Trong chăn nuôi đã tăng số hộ và số lượng đàn gia súc gia cầm/hộ, từ đó dẫn tới số lượng gia súc gia cầm trong xã hàng năm cũng được tăng lên. Kỹ thuật canh tác được áp dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật, đầu tư giống, vật tư đã giúp cho năng suất cây trồng cao hơn.

Hoạt động sản suất kinh doanh nhỏ tại địa phương có xu hướng tăng lên do người dân được tiếp cận nguồn vốn tín dụng để đầu tư kinh doanh dịch vụ nhỏ tại địa phương nhằm cải thiện đời sống và tăng thu nhập cho hộ gia đình.

Á˜ Điều kiện công trình vệ sinh hộ gia đình và sức khoẻ phụ nữ có thay đổi

Trong lĩnh vực hoạt động y tế của một số tổ chức cộng đồng đã thay đổi điều kiện công trình vệ sinh hộ gia đình và cải thiện sức khoẻ cho cộng đồng, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Đối với phụ nữ thì sức khoẻ được cải thiện mạnh, tỷ lệ bệnh phụ khoa giảm từ mức 70-75% năm 2001 xuống còn mức thấp (23-45%) năm 2003.

Á˜ Tăng thu nhập và giảm tỷ lệ nghèo đói

Các báo cáo của UBND xã, Ban phát triển cộng đồng xã đều thừa nhận rằng CBOs đã góp phần rất quan trọng trong phát triển kinh tế tại địa phương và góp phần làm giảm số hộ nghèo đói trên địa bàn các xã. Theo số liệu thống kế trong bảng 2 của các xã dự án giai đoạn 2001-2003 cho thấy tỷ lệ hộ nghèo trong các xã đã giảm xuống hàng năm. Bình quân thu nhập, bình quân lương thực/người/năm không ngừng tăng trong những năm qua. Như thu nhập bình quân đầu người năm 2003 tại xã Trường Xuân tăng từ 1.550.000 lên 1.950.000 đồng/người/năm, xã Trường Sơn tăng từ 576.000 lên 720.000 đồng/người/năm.

Bảng 6: Xu hướng giảm nghèo tại các xã dự án

2001

2002

2003

Trường Sơn

56,4

45,6

47,9

Trường Xuân

41

38

29

Vạn Ninh

24,3

19,2

11,6

Hàm Ninh

35

27

23

Nguồn: Số liệu thống kê xã dự án- Báo cáo tổng kết năm 2003

2. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI THÚ Y CỘNG ĐỒNG

Hội thú cộng đồng xã là một tổ chức cộng đồng được UBND xã ra quyết định thành lập và chuẩn y điều lệ hoạt động. Thành viên tham gia hội thú y là những nông dân tự nguyện và được cộng đồng lựa chọn từ các thôn bản trong xã. Để trở thành thú y viên thì các thành viên hội thú y cộng đồng phải được đào tạo về thú y và một số kiến thức kĩ năng khác nhằm phục vụ công tác thú y cho cộng đồng đến tận từng thôn bản.

2.1. Lý do hình thành dự án thú y cộng đồng

Từ những năm 1998 các xã Trường Sơn, Trường Xuân và Vạn Ninh là xã nghèo của huyện Quảng Ninh có địa bàn đi lại khó khăn, dân cư sống rải rác nhiều thôn bản với phạm vi rộng và cách xa với các trung tâm chợ, thị trường bên ngoài. Đây là các xã có nhiều lợi thế về nguồn thức ăn tự nhiên để phát triển chăn nuôi. Tuy nhiên số lượng đàn gia súc gia cầm tại các xã này chỉ ở mức trung bình và kém nhất huyện Quảng Ninh.

Qua khảo sát cho thấy công tác thú y và kiến thức về chăn nuôi gia súc gia cầm tại các xã dự án còn rất thấp, tỷ lệ tiêm phòng cho trâu bò đạt khoảng 30-40% và rất ít việc tiêm phòng cho lợn, gia cầm. Tỷ lệ gia súc gia cầm chết nhiều trong năm và là những nguyên nhân chính làm giảm đi khả năng phát triển chăn nuôi tại địa phương. Hàng năm tỷ lệ gia súc chết do dịch bệnh lên tới 30%, gia cầm chết do dịch bệnh lên tới 80%.

Công tác thú y kém và dịch bệnh xảy ra với tỷ lệ cao tại các xã dự án là do một số nguyên nhân sau:

- Chưa có hệ thống thú y tại từng thôn bản

- Toàn xã chỉ có 1 đến 2 người thú y viên trình độ sơ cấp

- Phạm vi thôn bản rộng với số lượng thú y viên ít

- Không có tủ thuốc thú y và xa các đại lý thuốc thú y tại địa phương

- Thú y viên ở xa và điều trị không kịp thời, tỷ lệ chết cao

- Kiến thức thú y và chăn nuôi của người dân còn rất thấp

- Công tác tiêm phòng không được thường xuyên,

- Chủ yếu tiêm phòng trâu bò (theo định kỳ hàng năm của tỉnh, huyện)

- Hầu như không tiêm phòng cho lợn và gia cầm

Từ những đặc điểm của địa phương và được hỗ trợ của dự án. Tại các xã đã tiến hành lập kế hoạch và thành lập Hội thú y cộng đồng. Kết quả có 3 hội thú y cộng đồng được thành lập tại 3 xã Trường Sơn, Trường Xuân và Vạn Ninh huyện Quảng Ninh. Tổng số có 61 thú viên hoạt động cung cấp dịch vụ thú y trên 36 thôn bản.

2.2. Mục đích, mục tiêu và hoạt động dịch vụ của hội thú y cộng đồng

    1. Mục đích của dự án thú y cộng đồng:

Mục đích tổng thể và lâu dài của Hội thú y cộng đồng là góp phần năng cao thu nhập chăn nuôi cho cộng đồng nhằm góp phần vào quá trình xoá đói giảm nghèo.

    1. Mục tiêu của dự án thú y

- Nâng cao kiến thức kĩ thuật phòng trừ dịch bệnh vật nuôi cho cộng đồng thông qua tuyên truyền, tập huấn những kiến thức, kĩ năng mà các thành viên hội thú y được tập huấn cho cộng đồng.

- Nâng cao khả năng phát hiện, phòng trừ dịch bệnh vật nuôi kịp thời cho cộng đồng thông qua công tác tuyên truyền, tập huấn và tiêm phòng định kỳ

- Tạo cơ hội cho cộng đồng tiếp cận với dịch vụ thú y đảm bảo chất lượng, kịp thời và giả cả hạ hơn so với thị trường bên ngoài.

    1. Các dịch vụ do Hội thú y cộng đồng cung cấp

- Tổ chức kiểm tra, phát hiện, phòng trừ dịch bệnh vật nuôi: định kỳ hội thú y cộng đồng sẽ có kế hoạch kiểm tra tình hình dịch bệnh vật nuôi trong cộng đồng để có kế hoạch phòng trừ dịch bệnh kịp thời

- Cung cấp thuốc thú y, vắc xin: Hội thú y cộng đồng sẽ xây dựng một tủ cung cấp thuốc thú y và tủ chứa vacxin trong xã. Giá thuốc và vacxin sẽ được UBND xã phối kết hợp với hội để thống nhất và công bố công khai cho người dân.

- Chuyển giao kiến thức, kĩ thuật phòng trừ dịch bệnh vật nuôi cho cộng đồng: Dịch vụ này được hội tổ chức định kỳ tại các thôn bản thông qua các buổi tuyên truyền, tổ chức tập huấn tại các thôn bản.

2.3. Tác động của hội thú y cộng đồng tại địa phương

Công tác thú y địa phương: Sau khi mạng lưới thú cộng đồng được hình thành tại xã và tại từng thôn bản, công tác thú y của địa phương hoạt động tốt hơn. Hoạt động tiêm phòng do Hội tự thực hiện theo nhu cầu người dân được thường xuyên cho nhiều loại vật nuôi. Công tác tiêm phòng theo kế hoạch của Trạm thú y viên đạt 80-90%. Công tác tuyên truyền phòng trừ dịch bệnh được phổ biến cho người dân kịp thời, đặc biệt trong các đợt dịch bệnh có xảy ra như hiện nay có dịch bệnh H5N1 ở gia cầm.

Tình hình dịch bệnh: Nhờ công tác tiêm phòng định kỳ và thường xuyên trên gia súc gia cầm và kiến thức người dân về chăn nuôi cũng được nâng cao nên tại các địa phương rất ít xảy ra dịch bệnh, tỷ lệ dịch bệnh ở mức 5% trên gia súc, 10% trên gia cầm.

Tăng số lượng đàn gia súc gia cầm và tăng thu nhập cho người nghèo và người dân tộc Vân Kiều: Dịch vụ tiêm phòng thường xuyên và có thú y viên gần gủi với người chăn nuôi. Từ đó đã giúp cho người chăn nuôi, đặc biệt là người nghèo, người dân tộc tại các bản xa trung tâm không sợ rủi ro do dịch bệnh và yên tâm để đầu tư chăn nuôi. Do đó mà số lượng đàn gia súc gia cầm trong toàn xã nói chung và trong hộ gia đình được tăng lên và thu nhập được thay đổi.

2.4. Các bước hình thành hội thú y cộng đồng

v Khảo sát nhu cầu

- Quá trình khảo sát nhu cầu cần có sự tham gia của cộng đồng nhằm đảm bảo phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội của địa phương

- Cần xác định các chỉ số để thiết lập dự án: Số lượng vật nuôi, hiệu quả kinh tế, phương thức chăn nuôi của từng loại hộ, khả năng tiếp cận thuốc, văc xin, thị trường

v Lập kế hoạch

- Sau khi đã xác định được nhu cầu của cộng đồng, quá trình lập kế hoạch cũng cần có sự tham gia của cộng đồng và chính quyền địa phương

- Thời điểm triển khai các hoạt động dự án cần được cộng đồng quyết định nhằm tránh các tình trạng gặp phải mùa vụ sản xuất nên cộng đồng không có thời gian để triển khai hoạt động

- Xác định rõ vai trò của các bên tham gia liên quan trong thực hiện dự án

- Cần lưu ý sự tham gia của các cơ quan chuyên môn như trạm thú y, trạm khuyến nông, chi cục thú y vì đó là những tổ chức có chức năng quản lý nhà nước về các hoạt động chăn nuôi trên địa bàn

v Viết văn bản dự án

- Sau khi nắm bắt được nhu cầu và lập kế hoạch chi tiết với cộng đồng, văn bản dự án phải được viết một cách chi tiết

- Tham khảo thêm ý kiến của các nhà chuyên môn vì có rất nhiều vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện dự án mà khi viết văn bản dự án chung không lường hết được

- Cần có cơ sở để đảm bảo được dự án có tính bền vững và mang lại lợi ích chung cho cộng đồng, đặc biệt là người nghèo.

v Phổ biến dự án

- Việc phổ biến dự án là hoạt động then chốt gíup dự án thành công

- Cộng đồng và các bên liên quan cần phải biết rõ dự án- đó là điều bắt buộc

- Cộng đồng có rất nhiều sáng kiến hay và chỉ có cộng đồng mới quyết định họ tự giảm nghèo bằng cách nào là phù hợp nhất. Điều chỉnh văn bản dự án phù hợp với ý kiến đóng góp của cộng đồng.

- Qua phổ biến dự án càng giúp ta hiểu thêm về cộng đồng, về đối tác thực hiện dự án và ngược lại.

v Chọn thành viên

- Chọn thành viên tham gia dự án hay còn gọi là thành viên của tổ chức, ở đây là thành viên của hội thú y cộng đồng. Các thành viên do tự nguyện tham gia và được cộng đồng lựa chọn đề xuất, chỉ có cộng đồng mới biết ai người nào xứng đáng và đủ khả năng phục vụ cộng đồng

- Tuy nhiên cần cung cấp thông tin về tiêu chuẩn chọn thành viên để cộng đồng có thêm căn cứ để lựa chọn

v Xây dựng tổ chức

- Sau khi lựa chọn được thành viên, việc bầu ban lãnh đạo phải được dân chủ, tránh các hiềm khích và tránh người không có năng lực lãnh đạo được bầu vào ban điều hành

- Quy chế của tổ chức được xây dựng có sự tham gia của các bên liên quan. Cần giúp đỡ hội phương pháp xây dựng quy chế hoạt động

- Quy chế phải thể hiện rõ tôn chỉ hoạt động của Hội, phân rõ trách nhiệm, quyền hạn và trách nhiệm của các thành viên

- Quy chế này phải được chính quyền địa phương thông qua và dựa vào đó để chính quyền cấp giấy phép thành lập hội.

v Chọn giảng viên

- Quá trình tuyển chọn chuyên gia tập huấn phải kĩ lưỡng bởi vì có rất nhiều giáo viên có tay nghề cao và giảng về thú y giỏi nhưng nên nhớ học viên của chúng ta là các nông dân thuần tuý, họ chỉ phù hợp với phương pháp học dựa trên năng lực, kiến thức chỉ trở thành của họ nếu họ được trải nghiệm.

v Tập huấn kĩ thuật thú y cơ bản và tập huấn nâng cao

- Sau khi chọn xong thành viên, xây dựng quy chế hoạt động, thành viên lập cam kết với UBND xã và Hội ta tiến hành mở lớp tập huấn về kĩ thuật thú y cơ bản cho thành viên. Thời gian tập huấn gốm lý thuyết và thực hành với tổng thời gian liên tục là khoảng 2 tuần. Ngoài tập huấn về kiến thức, thì huấn luyện kĩ năng rất được chú trọng để sau khi học xong học viên có khả năng để hành nghề.

- Chuẩn bị thật tốt để hội ra mắt trước cộng đồng. Hoạt động đầu tiên có thể áp dụng là tổ chức một đợt tiêm phòng mở rộng toàn xã cùng với sự hỗ trợ đắc lực của chính quyền địa phương và các ban ngành trong việc tổ chức và thông báo rộng rãi. Tiêu chí cho lần ra mắt đầu tiên là chất lượng phục vụ đứng đầu. Uy tín của hội trước công đồng sẽ dần nâng cao nếu hội hoạt động chặt chẽ, có tổ chức, ít có sai sót và mang lại hiêu quả cho cộng đồng

- Các thú y viên được tập huấn kĩ thuật chăn nuôi gia súc gia cầm và tham quan một số mô hình chăn nuôi có hiệu quả

- Sau một năm hành nghề, các thú y viên sẽ được tập huấn năng cao kiến thức và kĩ năng chăn thú y. Các thú y viên đạt kết quả cao khoá học này sẽ đăng kí với trạm thú y huyện hoặc chi cục thú y để được cấp giấy phép hành nghề thú y

v Tập huấn về pháp lệnh thú y và tập huấn cho tập huấn viên (TOT)

- Tập huấn pháp lệnh thú y là hoạt động tiếp theo nhằm cung cấp cho học viên những hiểu biết về pháp lệnh thú y và để hành nghề một cách tốt hơn và đúng với pháp luật

- Ngoài kiến thức chuyên môn, các thú y viên cần phải được trang bị thêm kĩ năng truyền thông vì chính họ sẽ trở thành những tiểu giáo viên, những tuyên truyền viên cho cộng đồng. Cần đảm bảo rằng các thú y viên có khả năng chuẩn bị một cách nhuần nhuyễn đề cương những bài giảng mà họ phải tập huấn cho cộng đồng.

v Tập huấn kế toán và sổ theo dõi hoạt động của tổ chức hội

- Tập huấn kiến thức và kĩ năng về kế toán cho ban quản lý hội và cho các tổ trưởng là hoạt động cần thiết để hội có khả năng quản lý tài chính và quản lý theo dõi việc mua bán thuốc thú y.

- Cung cấp sổ sách kế toán ghi chép theo dõi tài chính và theo dõi vật tư thuốc thú y, văc xin. Các loại sổ sách kế toán chủ yếu là kế toán đơn giản và thiết kế các loại sổ theo dõi vật tư, theo dõi hoạt động phải đơn giản nhất để tạo điều kiện cho việc ghi chép được dễ dàng.

v Xây dựng kế hoạch hoạt động hàng tháng, thành lập tủ thuốc và vác xin thú y

- Mỗi tháng hội thú y cộng đồng họp một lần vào ngày quy định gồm các tổ trưởng và ban điều hành hội để báo cáo hoạt động tháng, báo cáo tài chính tháng, lập kế hoạch cho tháng sau, tìm ra những thuận lợi, khó khăn và các giải pháp khắc phục

- Sau khi được đào tạo, thành viên hội thú y cộng đồng sẽ thống nhất mức đóng góp cổ phần xây dựng tủ thuốc và vác xin thú y. Số vốn cổ phần đóng góp được cùng với vốn hỗ trợ đối ứng ban đầu của dự án

v Xây dựng quy chế và thực hiện tiêm phòng vác xin cho gia súc gia cầm

- Các hộ chăn nuôi được Hội tập huấn về kiến thức chăn nuôi thú y và biết về tuổi tiêm phòng của gia súc gia cầm với một số bệnh thông thường. Từ đó các hộ trong thôn bản thông báo về số lượng gia súc gia cầm cần tiêm phòng và loại bệnh cần được tiêm cho thú y viên thôn bản trước một tuần khi tổ chức tiêm phòng định kỳ 2 lần/năm

- Các hộ chủ động liên hệ với thú y viên thôn bản đề thực hiện việc tiêm phòng quanh năm cho gia súc gia cầm

v Hoạt động điều trị bệnh gia súc, gia cầm

- Sau khi được đào tạo kĩ thuật cơ bản và kĩ thuật thú y nâng cao, các thú y viên có chứng chỉ và cam kết điều trị bệnh gia súc, gia cầm cho cộng đồng khi có yêu cầu. Ban điều hành hội phải lập kế hoạch mua dự phòng lượng thuốc theo nhu cầu của các thú y viên

- Giá thuốc và giá công điều trị bệnh gia súc gia cầm phải được thống nhất trong Hội và được UBND xã xác nhận.

v Theo dõi giám sát

- Hoạt động theo dõi giám sát dự án phải diễn ra thường xuyên, trong thời gian đầu cần tuân thủ tốt các nguyên tắc quản lý và hướng cho hội hoạt động có quy củ, nề nếp, duy trì sinh hoạt hội định kì, giải quyết và hướng dẫn kịp thời những vướng mắc trong quá trình hoạt động.

3. MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Trong quá trình xây dựng Hội thú y cộng đồng, RDPR đã rút ra một số bài học kinh nghiệm về phát triển tổ chức bền vững, đó là:

- Đảm bảo tính công khai, minh bạch trong tài chính và sự tham gia là những vấn đề quan trọng quyết định đến sự thành công và bền vững của tổ chức.

- Có sự tham gia của chính quyền địa phương trong quá trình hình thành và được chính quền địa phương xác nhận sự tồn tại và hoạt động trong địa bàn xã. Các CBO phải được xem như một bộ phận, một ban ngành của địa phương và góp phần trong quá trình phát triển kinh tế của địa phương.

- Điều tra kỹ và phù hợp với nhu cầu của cộng đồng về dịch vụ mà các tổ chức cộng đồng sắp cung cấp: Dự án thú y cộng đồng rất phù hợp và có hiệu quả rõ rệt nhất với vùng trung du miền núi, có địa bàn đi lại rộng và khó khăn.

- Đầu vào cho xây dựng tổ chức: Việc chọn học viên và giảng viên cực kỳ quan trọng, quyết định rất lớn đến chất lượng hoạt động của tổ chức. Học viên trước hết là người tự nguyện, yêu thích nghề nghiệp. Giảng viên phải có kinh nghiệm làm việc với cộng đồng và có các kĩ năng về đào tạo cho người lớn.

- Tổ chức phải có nguồn tài chính đủ để hoạt động và được hình thành từ sự hỗ trợ của dự án và phải có sự tham gia đóng góp của thành viên. Nguồn vốn hỗ trợ của dự án cần được tăng dần từ nhỏ tới lớn theo quá trình hoạt động và năng lực quản lý của tổ chức cộng đồng. Hệ thống ghi chép phải đơn giản, dễ sử dụng nhưng đảm bảo phản ánh đúng tình hình tài chính.

- Xây dựng một tổ chức cộng đồng đến khi hoạt động độc lập đòi hỏi thời gian thực hiện dự án kéo dài nhiều năm, ví dụ ít nhất là 3 năm.

- Duy trì thường xuyên các hoạt động về thông tin báo cáo, tổ chức họp định kỳ, sơ kết tổng kết hoặc đại hội thành viên hàng năm. Thực hiện một cách nghiệm túc ngay từ thời gian đầu mới hình thành./.

Số lượt đọc:  348  -  Cập nhật lần cuối:  12/03/2009 08:48:03 AM
Bài mới:  
Bài đã đăng:
Các bài được đọc nhiều nhất
23/11/2009 12:49' PM
Tham quan trại nuôi gà và nuôi giun tại xã Xuân Lũng
14/09/2009 03:52' PM
Kỹ thuật chăn nuôi thỏ quy mô hộ gia đình tại Phú Thọ
26/11/2006 01:19' AM
Tài liệu về Chương trình 135 Giai đoạn 2 (2006-2010)
08/04/2009 05:33' AM
Vai trò giới trong phân công lao động gia đình ở Việt Nam qua những biến động xã hội
16/07/2006 09:01' AM
Kỹ thuật Trồng và Chăm sóc Tre Bát độ để lấy Măng
24/06/2006 08:54' AM
Viết Thu hoạch sau Cuộc Tham quan Học tập
14/09/2009 10:06' PM
Kỹ thuật trồng nấm mèo
15/06/2010 08:40' PM
Mẹo sử dụng và cài đặt font tiếng Việt cho SPSS 15 và 16
11/03/2009 05:51' AM
Chia sẻ kỹ thuật chăm sóc heo nái khi sanh sản và hậu sanh sản
21/02/2008 09:24' AM
Hướng dẫn lập và sử dụng trang web qua My.opera.com
Đăng ký nhận tin thư
Họ và tên:
Email:
Tổng số lượt truy cập: 5.776.366
Số người trực tuyến: 30

©2004 Bản quyền Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn - RDSC
Số 2 nhà D, 45/39 Hào Nam, Đống Đa, Hà Nội,Việt Nam
Email: rdsc@netnam.vn - Phone: +84-4-3-512 1175 - Fax: +84-4-3-512 1175
Website được xây dựng trên Công nghệ ViePortal của Hanoi Software JSC