RDSCVN
Đang tải dữ liệu...

Giới thiệu RDSC    |    Tin tức sự kiện    |    Diễn đàn    |    IDMA    |    Video    |    Âm thanh    |    Gallery    |    Slide show

Trưng cầu ý kiến
Dành cho các anh/chị kế toán.
Trong thực tế, Anh/chị dùng phần mềm kế toán chuyên dụng chủ yếu để làm việc gì? Không chọn quá 3 phương án.
 
Hỗ trợ trực tuyến

Trao đổi thảo luận

Phát triển Cộng đồng: Bài học từ các thôn bản ở đông bắc Thái Lan

Phát triển Cộng đồng: Bài học từ các thôn bản ở đông bắc Thái Lan

Người viết: Nguyễn Phạm THu Huyền

1. Bối cảnh

Từ ngày 13 đến ngày 18 tháng 8 năm 2007, RDSC đã tổ chức chuyến thăm quan học tập tại Chiềng Mai, Thái Lan cho nhân viên và các đối tác. Trong dịp này, tôi cùng với các thành viên trong đoàn thăm quan đã tới thăm và học tập kinh nghiệm của 4 cộng đồng người dân tộc thiểu số tại các tỉnh của nước bạn. Bài này là những điều ghi chép của tôi trong chuyến thăm các cộng đồng đó về những kinh nghiệm của các cộng đồng trong quá trình quản lý nguồn tài nguyên rừng, canh tác bền vững, khôi phục và duy trì tri thức bản địa.

2. Những ghi nhận

2.1. Kinh nghiệm quản lý tài nguyên thiên nhiên

Các cộng đồng mà đoàn thăm quan có một đặc điểm chung về điều kiện tự nhiên cũng như xã hội là: Họ đều là các cộng đồng dân tộc thiểu số, sống ở các thung lũng, xung quanh là rừng. Rừng là tài sản thiêng liêng của họ.

Bản Hilatnai là bản đầu tiên đoàn thăm quan tới trong chặng hành trình này. Bản nằm ở vùng núi biên giới phía bắc Thái Lan. Cả bản có 20 hộ gia đình với khoảng hơn 1 trăm khẩu. Dân bản tự gọi họ là người Pacayro, người Thái gọi họ là Cayrien. Dân bản sống tại đây đã được 4 thế hệ. Nguồn thu của họ là từ trồng lúa nước, trồng rẫy và thu hoạch và bán các lâm sản ngoài gỗ. Rừng là nguồn sống chính của họ.

Cách đây 12 năm, Chính phủ Thái đã có kế hoạch quy hoạch vùng rừng mà cộng đồng hiện đang quản lý thành vườn quốc gia. Kế hoạch này đã vấp phải sự phản đối của cộng đồng. Bởi vì, kế hoạch này khả thi thì người dân sẽ không còn được khai thác các sản phẩm từ rừng và nguồn thu nhập chính của họ không còn. Do đó, Cộng đồng đã cử đại diện của mình gặp gỡ các nhà quản lý của nhà nước từ cấp liên thôn đến cấp trung ương. Nội dung trong các cuộc đối thoại này là thuyết phục nhà nước giao rừng cho cộng đồng tự quản lý. Với rất nhiều công sức thuyết phục, cuối cùng, cộng đồng cũng đã được nhà nước đồng ý cho quản lý rừng của mình với diện tích là 10.000rai

Do đó, cả cộng đồng đã hình thành với nhau những quy ước về bảo vệ và khai thác rừng, đảm bảo tính bền vững. Những quy ước này được hình thành dựa trên các tri thức bản địa. Cây rừng được để mọc tự nhiên. Cộng đồng không được phép chặt gỗ để bán. Họ chỉ đươc khai thác hoa quả, chè, rau rừng. Họ nhận biết những loại cây nào không trồng lại được và nghiêm cấm việc chặt phá các loại cây đó.

Họ có những khu rừng thiêng. Trong những khu rừng đó, có những cây mà người dân đã treo dây rốn của những đứa trẻ mới sinh lên đó. Sau ba ngày, rây rốn đó sẽ được lấy về để tránh cho đứa trẻ bị ốm. Cây được chọn để treo dây rốn là những cây to, có quả. Ý nghiã của việc làm này là để linh hồn của đứa trẻ gắn với rừng hình thành tình yêu rừng của nó. Cây trong khu rừng thiêng thì không ai được phép chặt.

Người dân ở đây có tình yêu rừng rất lớn. Với những cây gỗ to và những cây gỗ quý, họ dùng dây vải màu vang buộc xung quanh gốc của chúng. Hành động đó, theo như giải thích của người trong cộng đồng, giống như hành động sắc phong một chức vị cao quý cho một người. Kết quả, khu rừng mà cộng đồng quản lý có rất nhiều tầng cây. Do đó, tác dụng ngăn chặn xói mòn của nước mưa, giữ đất màu mỡ và nguồn nước ngầm rất tốt.

Trong suốt chặng đường tham quan, chúng tôi còn gặp phong tục giữ rừng này ở bản Hay Uy Oang của người dân tộc Krem. Họ cũng có những khu rừng thiêng. Tuy nhiên, khu rừng của họ trước kia cũng được khai thác. Sau 10 năm duy trì các phong tục, tri thức trong việc bảo vệ rừng mà khu rừng với diện tích 30rai của họ đã phát triển trở lại với nhiều tầng cây

Việc canh tác lúa nước và trồng rẫy của cộng đồng người Cayrien ở Bản Hilatnai hoàn toàn không có phân hoá học chất và có tính bền vững. Người dân ở đây duy trì các giống lúa truyền thống. Một năm họ chỉ cấy một vụ, khi bắt đầu mùa mưa thì họ bắt đầu cấy, từ tháng 5 đến tháng 10. Sau khi thu hoạch xong, họ để ruộng không và thả trâu bò ra đó. Phân trâu bò cùng với rơm, gốc rạ sẽ là một loại “phân ủ” hữu cơ rất tốt cho đất. Ngoài loại phân hữu cơ này, họ không bón một loại phân hoá học nào khác. Người dân ở bản cũng không bao giờ phun thuốc hoá học. Nếu lúa bị sâu thì họ chỉ cần phụ rượu trắng. Bởi vì, họ trồng lúa truyền thống và chỉ trồng một vụ nên việc tích luỹ của sâu bệnh trên đồng ruộng là rất ít, chưa đến mức phải phòng trừ. Để phòng trừ chim và chuột thì họ sử dụng các bẫy cơ học. Năng suất lúa của họ được tính: cứ gieo 45 cân giống thhì thu được 3 tạ thóc thịt. Trước kia, đã có lần khuyến nông của nhà nước đã đưa đến và trồng thử ở cộng đồng một giống lúa mới. Tuy nhiên, giống đó không trổ được bông. Với cách canh tác lúa nước như vậy, dân bản không bị phụ thuộc vào bên ngoài về giống cũng như các vật tư nông nghiệp khác. Ở Việt Nam, phương thức canh tác này không còn tồn tại. Theo cá nhân tôi, nguyên nhân là nhu cầu tăng năng suất để cung cấp đủ năng suất cho gia đình.

Việc trồng rẫy của dân bản được thực hiện theo kiểu du canh. Một rẫy, sau khi trồng một năm sẽ được bỏ hoá trong 8 năm. Do đó, đất có đủ thời gian để phục hoá, một số loại cây bụi và gỗ nhỏ cũng mọc lại. Khi đốt rẫy, đất lại có thêm chất dinh dưỡng. Quá trình canh tác rẫy của dân bản cũng không hề có phân và thuốc hoá học, không làm cho đất bị kiệt quệ đi. Phương thức canh tác rẫy như thế này, đồng bào người dân tộc tại Thanh Sơn cũng đã từng áp dụngvà duy trì trong nhiều năm. Tuy nhiên, khi có chính sách cấm du canh, du cư, đốt nương làm rẫy, diện tích đất của bà con bị thu hẹp lại thì phương thức này không còn được duy trì.

Tại bản Me sa mải, đoàn thăm quan lại được tiếp cận một phương pháp canh tác khác. Phương thức canh tác này có tác dụng bảo vệ tài nguyên đất, nước, và rừng một cách bền vững.

Bản Me sa mải là một bản người Mông với 200 hộ và khoảng 1000 dân. Trước kia, dân bản sống bằng trồng cây thuốc phiện. Khi cây thuốc phiện bị cấm, bản được chính phủ hỗ trợ để trồng cây ăn quả, rau theo hướng hàng hoá. Tuy nhiên, những người lãnh đạo bản cũng nhận thấy: sản xuất theo phương pháp này sẽ bị lệ thuộc nhiều vào bên cung cấp phân bón và thuốc sâu. Dân bản có phương tiện để mang các sản phẩm của mình bán tại Băng Cốc và Chiềng Mai.

Tại bản này, đoàn thăm quan được thăm mô hình vườn rừng của ông Giò giò. Vườn rừng của ông bao gồm nhiều tầng cây, từ cây gỗ lớn, cây tầm thấp, cây bụi, dây leo và những cây thuốc. Những cây này được mọc tự nhiên, tự đấu tranh để sinh tồn. Bên cạnh đó, ông có trồng thêm các cây cà phê. Để hạn chế sự xói mòn đất, ông chia khu vườn thành các băng và xắp đá dưới chân. Công việc này được ông và gia đình kiên trì làm trong suốt 30 năm. Do vậy, đất trên vườn đồi rất ẩm và rất nhiều mùn. Đây là một mô hình rất hiệu quả trong việc bảo vệ đất, rừng, nguồn nước. Tuy nhiên, mô hình này đòi hỏi người thực hiện phải kiên trì trong một thời gian dài. Bởi vì tốn nhiều công sức và hiệu quả kinh tế có rất muộn.

Một phương thức bảo vệ tài nguyên đất nữa mà đoàn tham quan được tiếp cận là phương thức làm vườn nhưng không xới cỏ của người dân ở bản Hayuyoang. Ở đây, người dân có những khu vườn được đặt tên rất lạ: “Vườn Lười”.Đó là khu vườn trồng hồng. Trong những năm đầu, khi cây mới trồng, người dân còn làm cỏ. Tuy nhiên, khi cây lớn, họ không làm cỏ mà để cỏ mọc tự nhiên. Theo giải thích của họ thì cách làm này có tác dụng giữ ẩm cho đất, tránh xói mòn.

Ở vùng Thanh Thuỷ và Thanh Sơn cộng đồng không làm như vậy. Bởi vì: nếu để cỏ mọc tự nhiên như thế thì nó sẽ cạnh tranh dinh dưỡng, nước và ánh sáng với cây trồng và lại là nơi trú ngụ của sâu bệnh gây hại. Do đó , năng suất cây trồng thường thấp. Người dân thường dùng biện pháp cơ học: xới, cắt, đào hoặc biện pháp phun thuốc hoá học để diệt cỏ dại. Trong đó, biện pháp cơ học trong trừ cỏ dại ở vùng đất dốc lại là một trong những nguyên nhân gây xói mòn.

2.2. Kinh nghiệm trong duy trì và truyền giao các tri thức bản địa qua hình thức đào tạo bổ trợ ở bản Me sả mai, Mê Vin, Hayuyoang

Trong chuyến đi, đoàn tham quan được gặp gỡ với hai nhóm người dân tộc: Krem và Mông ở 4 bản khác nhau. Các nhóm dân tộc này có rất nhiều những tri thức và dưới sự hỗ trợ của NGO, hệ thống truyền giao các tri thức đã được hình thành.

Tại bản Me Sả Mai, cộng đồng có nhiều tri thức về cây thuốc. Để thế hệ trẻ biết và sử dụng được các tri thức đó, trưởng bản đã trở thành thầy giáo. Thầy giáo sẽ dạy bọn trẻ về các tri thức về cây thuốc bằng tiếng và chữ Mông. Đồng thời, thầy còn xây dựng vườn thuốc trong khu vườn của gia đình để cho bọn trẻ thực hành. Phương pháp chuyển giao này không hề tốn kém nhiều tiền nhưng nó đòi hỏi người dạy phải là người nhiệt tình, tâm huyết với việc duy trì và phát huy các tri thức bản địa.

Bản Mê Vin là một bản của người dân tộc Krem. Cộng đồng được hình thành từ cách đây 200 năm. Trước kia, dân bản có đời sống du canh du cư qua nhiều vùng đất khác nhau. Và bản không được công nhận là một đơn vị hành chính mà chỉ là một cụmm của một làng lớn ở vùng đồng bằng. Từ 15 năm nay, làng mới được công nhận là đơn vị hành chính có trưởng bản do nhà nước chỉ định.

Về sản xuất: dân bản trồng lúa nước và du canh để tự túc lương thực, chăn nuôi gia súc(trâu, bò, lợn), gia cầm để mua sắm tài sản. Ngoài ra, dân bản còn khai thác các sản phẩm từ rừng để dùng và bán.

Từ những năm 1991 trở về trước, bản chưa có các lớp học cho trẻ em. Hiện tại, trong làng đã có trường học giành cho học sinh từ mầm non đến hết lớp 6, với 67 học sinh.

Việc thành lập được trường học trong bản là một quá trình vận động. Năm 1991, dân bản được gặp tổ chức phi chính phủ. Dưới sự giúp đỡ của tổ chức Phi chính phủ, lãnh đạo làng gặp tù trưởng để bàn về việc thành lập trường học của bản như các bản khác. Đồng thời, ban lãnh đạo của làng còn gặp Ban giáo dục không chính quy. Kết quả trường được thành lập. Dân bản được sở hữu về mặt tự nhiên của trường còn nhà nước bảo lãnh về giáo viên. Tổng cộng có 5 giáo viên, 1 người Thái và 4 người địa phương. Học sinh được nhận sự hỗ trợ của nhà nước và được nhận hệ thống văn bằng do nhà nước cấp. Sau khi học xong lớp 6, các học sinh sẽ chuyển đến học trường THCS ở gần bản.

Năm 1995, cộng đồng đề xuất thực hiện chương trình đào tạo bổ trợ. Trong chương trình học này, người nội dung kiến thức được nhà nước quy định (Tiếng Thái, Toán, Tiếng Anh), học sinh còn được học chữ viết và tiếng nói của dân tộc, các phong tục tập quán, các tri thức bản địa.

Các tri thức và phong tục này được những người già làng làng tư liệu hoá lại bằng tiếng đân tộc mình. Chúng bao gồm các nội dung: trường ca, truyện kể, thơ, những luật tục, những điều kiêng kị, những tri thức bản địa.

Những giáo viên do nhà nước cử đến thì không biết tiếng dân tộc và không biết các tri thức bản địa . Do đó, các già làng, trưởng bản trở thành các giáo viên thực hiện chương trình đào tạo bổ trợ, giáo viên không chính thức, không có chế độ của nhà nước.

Tri thức bản địa được dạy chính thức vào chiều thứ 6 hàng tuần. Các nghi lễ được truyền giao theo phưng pháp: người già làm mẫu và giải thích ý nghĩa của từng nghi lễ. Học sinh được học nhận biết các loại cây trong rừng, chúng sẽ ghi lại những điều nhận biết đó bằng cả tiếng Thái và tiếng dân tộc mình. Ngoài ra, mỗi năm, các giáo viên không chính thức còn tổ chức cho các học sinh cắm trại trong rừng một ngày. Trong ngày đó, các học sinh sẽ được học các nội dung:

Ban ngày:

· Tìm hiểu về cây thuốc

· Học ca dao, tục ngữ

· Học trường ca

· Học phong tục tập quán của dân tộc

Buổi tối:

· Đốt lửa trại

· Hát, múa, đọc ca dao, tục ngữ

· Trưởng bản chấm điểm cho các tiết mục.

Ngoài cách truyền giao từ người già sang thế hệ trẻ, cộng đồng còn áp dụng cách truyền giao từ lớp trẻ này sang lớp trẻ khác qua các sinh hoạt cộng đồng: lễ tết, đám ma, đám cưới.

Trong 12 năm, có 9 thế hệ học sinh đã tốt nghiệp chương trình đào tạo bổ trợ tại bản. Các giáo viên cũng học được tiếng dân tộc qua các già làng.

Để tránh sự mai một của các tri thức bản địa, hàng năm, các thành viên đã học qua các khoá đào tạo bổ trợ gặp gỡ nhau để củng cố trao đổi các tri thức bản địa.

Chương trình đạo tạo bổ trợ mà các thế hệ học sinh và dân bản đang thực hiện là kết quả vận động của các lãnh đạo NGO, lãnh đạo cộng đồng và các tri thức.

Từ những năm 1999 trở về trước, ở Thái Lan có một hệ thống giáo dục duy nhất cho mọi vùng miền, từ lớp 1 đến lớp 12. Trong khi đó, nền văn hóa Thái Lan thì rất đa dạng với các vùng: Đông Bắc, Tây bắc, Trung, Nam. Do đó, với cách học trên, nhiều cộng đồng sẽ không duy trì được cuộc sống. Cuộc vận động đưa giáo dục bổ trợ vào các trường học đã được tổ chức.

Luận điểm của chương trình là: mọi người phải hiểu về nền văn hoá của dân tộc mình trước khi tiếp thu các nền văn hoá khác. Quá trình thực nghiệm chương trình đào tạo này được thực hiện ở 6 làng khác nhau của người Krem, Mông, La hủ, Dao. Chương trình thực nghiệm được nhận sự tài trợ của UNISEC. Trong thời gian thực nghiệm 3 năm, chương trình đã lôi cuốn được đội ngũ giáo các nhà giáo dục ở huyện, xã. Khó khăn lớn nhất trong quá trình thực nghiệm là phải dạy đồng thời hai ngôn ngữ.

Năm 1999, chương trình này chính thức được công nhận qua việc thảo luận với quan chức cấp huyện, tỉnh và trung ương. Bài học kinh nghiệm quan trọng nhất được rút ra qua quá trình thực nghiệm là: người già làng, trưởng bản là những người đóng vai trò chủ đạo

Tuy nhiên, hiện tại chỉ có 6 làng đang duy trì tốt chương trình đào tạo bổ trợ. Các làng khác đang bị suy giảm do họ không duy trì được nguồn giáo viên.

Thách thức đặt ra với chương trình đào tạo này là; các giáo viên không chính thức được chi trả bằng tài chính của nhà tại trợ. Do đó, để chương trình này được bền vững, các nhà quản lý đang đề nghị huyện và tỉnh công nhận các trường này là trường công.

Nếu như ở bản Me sả mai, Mê Vin, già làng, trưởng bản đóng vai trò chính trong việc truyền giao tri thức bản địa thỉ ở bản Hayuyoang, phụ nữ đóng vai trò chủ chốt.

Bản có 105 hộ, 475 nhân khẩu, nữ chiếm 51%.

Ở Thái Lan không có có một tổ chức phụ nữ thống nhất từ trung ương đến địa phương như ở Việt Nam. Tổ chức phụ nữ của họ được chia làm hai loại hình: Tổ chức tự thành lập dưới sự hỗ trợ của các NGO, Tổ chức phụ nữ cuả nhà nước luôn làm nhiệm vụ đón tiếp các quan chức nhà nước và phục vụ ăn uống cho họ.

Năm 1994, phụ nữ trong bản đã thành lập uỷ ban phụ nữ. Các thành viên trong uỷ ban có các hoạt động: tham quan các phong trào phụ nữ ở các thôn khác, vận động chị em tham gia đóng quỹ, 37 bạt/thành viên. Tiền quỹ họ sẽ cho thành viên vay với hai mục đích: sản xuất (vay theo chu kỳ, lãi xuất 2%), khám chữa bệnh (không có lãi). Hiện tại, số thành viên của Uỷ ban đã lên đến 117 thành viên.

Sau khi vận động được nhiều chị em tham gia, UB thực hiện thêm một số hoạt động:

· Sản xuất thủ công mỹ nghệ (Nhuộm chỉ bằng màu tự nhiên)

· Quản lý tài nguyên bền vững: bởi vì công việc nhuộm chỉ của họ có liên quan đến việc khai thác các nguyên liệu tạo màu từ rừng. Những kinh nghiệm khai thác bền vững họ được những người già truyền dạy.

· Duy trì các bản sắc dân tộc do kỹ thuật nhuộm chỉ liên quan đến bùa chú và các thầy mo.

· Truyền giao các tri thức cho các nữ học sinh

Và việc chuyển giao tri thức do phụ nữ đảm nhận. Theo cách lý giải của họ thì: con gái thường nghe mẹ nhiều hơn trong làm nông, làm thủ công mỹ nghệ, trong ăn mặc.

2.3. Một số ghi nhận trong hoạt động mạng lưới

Trước kia, ở Thái Lan, chính phủ không có nhiều chính sách đối với người dân tộc thiểu số. Người dân tộc thiểu số bị coi là nguyên nhân của một số vấn đề xã hội: Thực hành du canh, du cư, phá rừng, trồng cây thuốc phiện. Họ còn bị coi là những người có nền văn hoá khác với người Thái ở đồng bằng, là mối đe doạ đối với an ninh quốc gia.

Chính phủ liên tiếp thực hiện nhiều dự án đối với vùng dân tộc thiểu số. Các dự án đều được thực hiện theo định kiến từ trên xuống. Các dự án này cũng không giải quyết được các vấn đề bức xúc của người dân tộc thiểu số: sở hữu đất rừng, điều chỉnh quy đinh pháp luật.

Trước bối cảnh đó,mạng lưới nông dân miền núi phía bắc đã được thành lập (Hội đồng dân tộc thiểu số). Hiện nay, mạng lưới đang ngày càng được mở rộng. Nhiều bộ đã điều chỉnh quan điểm của mình với người dân tộc thiểu số: Cục Lâm nghiệp và Cục Quản lý rừng quốc gia. Quá trình đấu tranh của mạng lưới người dân tộc thiểu số vẫn tiếp tục.

3. Kết luận

Việc quản lý rừng, phương pháp canh tác bền vững, cách thức duy trì tri thức bản địa của các cộng đồng dân tộc là những bài học quý giá. Tuy nhiên, trong điều kiện cuả hai huyện Thanh Sơn và Thanh Thuỷ thì kinh nghiệm trong duy trì phát huy các tri thức bản địa có thể áp dụng được. Và việc làm đầu tiên là khơi lại sự tự hào về truyền thống văn hoá, những tri thức bản địa của các cộng đồng người dân tộc thiểu số.

Số lượt đọc:  61  -  Cập nhật lần cuối:  08/02/2009 01:57:33 PM
Bài mới:  
Phòng bệnh Gumboro cho gà
23/07/2011 09:48' PM
Bài đã đăng:
Các bài được đọc nhiều nhất
23/11/2009 12:49' PM
Tham quan trại nuôi gà và nuôi giun tại xã Xuân Lũng
26/11/2006 01:19' AM
Tài liệu về Chương trình 135 Giai đoạn 2 (2006-2010)
14/09/2009 03:52' PM
Kỹ thuật chăn nuôi thỏ quy mô hộ gia đình tại Phú Thọ
08/04/2009 05:33' AM
Vai trò giới trong phân công lao động gia đình ở Việt Nam qua những biến động xã hội
16/07/2006 09:01' AM
Kỹ thuật Trồng và Chăm sóc Tre Bát độ để lấy Măng
14/09/2009 10:06' PM
Kỹ thuật trồng nấm mèo
21/02/2008 09:24' AM
Hướng dẫn lập và sử dụng trang web qua My.opera.com
15/06/2010 08:40' PM
Mẹo sử dụng và cài đặt font tiếng Việt cho SPSS 15 và 16
11/03/2009 05:51' AM
Chia sẻ kỹ thuật chăm sóc heo nái khi sanh sản và hậu sanh sản
24/06/2006 08:54' AM
Viết Thu hoạch sau Cuộc Tham quan Học tập
Đăng ký nhận tin thư
Họ và tên:
Email:
Tổng số lượt truy cập: 5.486.330
Số người trực tuyến: 21

©2004 Bản quyền Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn - RDSC
Số 2 nhà D, 45/39 Hào Nam, Đống Đa, Hà Nội,Việt Nam
Email: rdsc@netnam.vn - Phone: +84-4-3-512 1175 - Fax: +84-4-3-512 1175
Website được xây dựng trên Công nghệ ViePortal của Hanoi Software JSC