RDSCVN
Đang tải dữ liệu...

Giới thiệu RDSC    |    Tin tức sự kiện    |    Diễn đàn    |    IDMA    |    Video    |    Âm thanh    |    Gallery    |    Slide show

Trưng cầu ý kiến
Dành cho các anh/chị kế toán.
Trong thực tế, Anh/chị dùng phần mềm kế toán chuyên dụng chủ yếu để làm việc gì? Không chọn quá 3 phương án.
 
Hỗ trợ trực tuyến
Vùng Phú Thọ

Chuyện Thôn Chủng xã Tân Lập Thanh Sơn và khả năng hợp tác với RDSC

Chuyện Thôn Chủng xã Tân Lập Thanh Sơn

Đinh Công Duy, Trưởng thôn Chủng, xã Tân lập

Ghi chép: Đặng Ngọc Quang

15 tháng 3 năm 2009

Vài nét về thôn Chủng

Thôn Chủng là một thôn có hai dân tộc cư trú là người Mường và người Kinh. Thôn được chia làm hai khu dân cư. Khu Suối Cái có 40 hộ trong đó có 12 hộ Kinh, còn lại là các hộ Mường. Khu thứ hai nay thường gọi là Khu Đội Một theo cách chia đội từ thời Hợp tác xã, còn xưa nữa thì khu này có tên gọi là Làng Gốc Gạo, có 64 hộ, trong đó có 8 hộ Kinh.

Về tâm linh, làng có một miếu làng mới được xây lại. Hàng năm, dân thôn tổ chức cúng làng vào dịp khai hạ tức là ngày 7 tháng 1, chính là ngày hạ cây nêu sau Tết âm lich. Ngày 12 tháng 2 thì làng tổ chức cúng Cầu mát hay là cầu cho sức khỏe của dân làng. Còn ngày 10 tháng 10 là ngày cúng mừng cơm mới. Ngày 7 tháng 7 thì là ngày cúng xá tội vong nhân dân làng cúng cầu may cho cả làng. Cuối năm, thì làng cúng ngày 27 tháng 12 gọi là cúng đóng cửa đền. Trong làng có cắt cử một ông từ để trông nom cúng gỗ đền, chứ không có chức sắc Già làng. Trước ngày có hợp tác xã, trong làng có tục làm lễ xuống đồng, theo đó một lão nông là người làm ăn giỏi xuống đồng trước, cả làng xuống đồng theo sau. Tục này đã xóa bỏ từ ngày có hợp tác xã và làm ăn theo kiểu “khoán quản”.

Trồng trọt

Một nguồn thu quan trọng của dân làng là làm lúa. Cả làng có nhiều cánh đồng, có đồng hai vụ năng suất cao như Đồng Sáu, đồng Nhớn, Đồng Soi. Đây là những cánh đồng trù phú gần Khu Suối Cái. Đất ở đây bằng phẳng, có tầng bùn sâu, và có năng suất cao, có hộ làm đạt 180 kg/sào.

Một số cánh đồng chỉ làm được một vụ lúa, do không có nước tưới quanh năm cho hai vụ. Vụ lúa ở đây cũng có thể đạt 160 Kg/sào. Vụ kia thì làm được ngô hoặc khoai.

Nhiều ruộng trong thôn làm trên độ dốc và có dạng ruộng bậc thang, như ruộng ở Đồng Vành, đồng Cháu, đồng Sồ, Đồng Bang, Đồng Giác, Đồng Nứa và Đồng Chào. Những ruộng này ở gần khu Suối Cái và ăn nước ở đấy.

Trong làng, Đồng Chuổi có người gọi trại đi là đồng Chỏi, ở vừa xa làng, vừa gần rừng, mà ruộng lại có nhiều đá. Năng suất ở đây cao nhất chỉ đạt 130 kg/sào.

Bà con trong làm thường bón cho lúa phân chuồng (đến 400 kg/sào) và khoảng 10 Kg/NPK. Nếu kông sâu bệnh thì cũng có thể đạt tới 140-160 kg/sào. Phân NPK có thể mua chịu ở các đại lý ở xã Tân Lập đến cuối vụ thì trả. Ví dụ, nếu lấy một bao 50 kg NPK trả tiền mặt thì giá 195 000 đ/tải (50kg) được nhà đại lý Hà Thắm lai đến tận nhà. Còn nếu tự lấy về thì giá 165 000đ/ bao. Nếu mua chịu thì cuối vụ trả thóc 55 kg lúa cho một tải NPK. Khi vào vụ thì giá lúa vào khoảng 4000 đ/kg.

Chăn nuôi

Con trâu là vật nuôi quan trọng trong làng. Hầu như nhà nào cũng nuôi trâu để cày bừa. Có nhà có tới 4 con, nhà ít thì có 1 con. Theo tính toán của thôn thì để làm ruộng chỉ cần 3 con trâu và/hoặc bò. Trong làng, chỉ có nhà cô Lý là duy nhất không có trâu bò. Hầu hết bà con nghèo (một nửa số hộ trong thôn) không làm chuồng trâu, nên không tận dụng được phân chuồng. Những nhà có chuồng trâu có phân trâu để làm ruộng và bán . Có hộ bán được 300 000đ/năm.

Cô Lý đã 50 tuổi, không chồng, không con, không có lao động, nên không nuôi gì. Nhà cô thì một mẹ gà cũng không nuôi. Nhà có 1 sào ruộng, làm chỉ vừa đủ ăn.

Trong làng cũng có nhiều kiểu chuồng trâu tốt. Ví dụ, tính cho 2 cặp bò, 1 con trâu đực, thì có thể làm chuồng kiểu đổ cột bê tông, làm hố xây để chứa phân. Có làm đường thoạt và hố chưa nước giải riêng. Tiền làm chuồng thì một hộ mới làm cho biết làm chuồng lợp fibro thì mất 2,5 triệu, còn nếu lợp lá thì chỉ mất 2 triệu. Riêng tiền công thuê thợ xây bể chứa phân trâu mất 270 000 đ.

Trong làng cũng có nhiều nhà nuôi lợn. Hộ ít cũng nuôi 2-3 con, nhà nhiều thì có tới 10 con. Thường lợn trong làng được nuôi nhốt. Thức ăn cho lợn phần lớn là dân bản tự túc đựơc, như khoai nước dại, sắn ngô, dây lang, cám cò, bã rượu (ít nhà).

Cũng có nhiều người trong làng nuôi lợn giống. Ví dụ, bà Sự vợ ông Cầu nuôi 1 nái, nhà Chiến - 1 nái, Vân -1 nái, Thụy- 1 nái, Minh- 1 nái, Tuấn -1 nái, Lập- 1 nái, An Ngọc- 1. Giống lợn nái bà con nuôi không phải là giống chuẩn, mà là loại hai bề (hai máu), không phải mua từ trạm giống. Trong làng không có lợn đực giống, đến lúc lợn nái động dục thì gọi điện cho người ta ở Trầm mang con đực đến. Đàn lợn nái trong làng chưa chuẩn. Nhiều con nái đẻ ít, hoặc đàn con không sống đến cuối đợt.

Về đất trồng rừng, trong làng phải có khoảng 30 hộ không có rừng. Còn lại các hộ khác đều có, không ít thì nhiều. Thời đó, mọi người nắm bắt chương tình chậm vì ít ai đi họp. Ai đi họp thì biết nhận trước. Người sau không đi thì không biết, mà cũng không ai đòi lại, tranh hỏi. Còn như nếu ai hỏi và đòi thì vẫn được chia lại cho.

Như nhà cháu, phải đòi lần thứ hai, mới được, nếu không thì ra xã. Khi các ông ấy nhận., Ai làm cái ót rừng (rẫy) thì làm mãi, chẳng phải bón phân, chán một bề thu. Không bao giờ mất mùa. Giồng vàng tâm, giổi, bùi toong, bùi toóng. Ót của mình vẫn là của mình. Như nhà tôi có 5 cái ót. Bị người ta nhận mất 4 cái, và vào sổ của người ta.

Tiền giữ rừng: có hai hộ (ông Trung (có con là Ngọc và Thành làm ở UBND), ông Chính. Hai ông cháu rể. Ông Trung đứng nhận và cho cháu trông. Gọi là trông nhưng không phải lên đỉnh đồi.

Nói chung, bà con trong thôn không đói vì có thể kiếm để đủ cái ăn. Do ruộng ít nên thường phải đong ăn. Từ . Có nhà 5 khẩu mà có 1 sào ruộng thì làm lúa là thiếu ăn. Các gia đình mà có con dâu ở làng khác về thì lại coi như là giảm ruộng vì thêm khẩu. Trẻ con sinh từ 91 trở đi cũng không có ruộng mà chia.

Nguồn đong ăn của bà con thì mùa nào thức ấy mà hầu hết là trông vào rừng hoặc đi làm thuê. Măng đắng thì đi lấy ở đất rừng của xã Thượng cửu từ tháng 2 đến đầu tháng 3 thì hết. Măng nứa thì đi lấy từ rằm tháng 4 đến cuối tháng 9. Sang tháng 9 thì có măng giang ngon nhưng ít, và chỉ để ăn. Đến tháng 10 – tháng một, chạp thì thu sắn. Chít thì có thể đi lấy từ cuối chạp sang giêng. Nguồn thu từ đi làm thuê thì chủ yếu là ở Hà nội. Hai năm nay, rỗi là người trong làng đi làm. Ngày nọ, trưởng thôn tính trong làng có tới 30 người làm Hà nội. Nếu đi 1 năm thì bà con đi làm cà fê. Còn đi Hà nội thì chỉ đi vài tháng về. Gần đây, có người đi làm gạch ở Hòa Bình. Hầu hết tụi con gái đều đi làm. Trong làm chỉ có 10 đứa ở nhà để trông con, trông nhà.

Gần đây, có một người có 200 Ha rừng ở Đội 5 Yên Lương họ đang thuê người ta phát nương với giá ngày công là 50 000 đ/ngày. Dân làng đã đi phát được một tháng nay. Ai đi làm thì mang theo cơm nhà mình. Dao phát thì của người ta, nếu phát đến khi đốt rẫy, mà làm đầy đủ thì con dao phát coi như được cấp. Nghe nói người ta thuê người làm từ giờ đến tháng 7. Hiện tại, trưởng thôn thấy cả thôn có 20 người đi phát.

Công trình vệ sinh

Nhà vệ sinh xây 2 ngăn. Từ năm chín mấy, y tế ngày xưa cho xây một ngăn dân bỏ. Đợt ấy cho 4 nhà cho nắp bê tông và một ống nhựa để thoát khí, dân đào đất,Giờ họ xây một ngăn . chỉ khoảng 1/3 có nhà xí hai ngăn.

Chi phí cho một nhà vệ sinh: xây gạch gạch chỉ, phía bệ. Phía trên tre lá cọ. Một gia đình 500 000 chỉ khoảng chưa đến tạ gạo.

Tổ chức huy động tiết kiệm dân gian

Trong thôn có cả phường tiền và phường lúa. Phường tiền thì có 10 nhà chơi theo mức góp 500 000 hộ. Thường hộ khá mới chơi phường tiền. Trong một năm thì cú 3 tháng lấy họ 1 lượt, mỗi lượt một nhà lấy. Khi đi lấy họ thì mỗi người đi góp 10 000 đ/uống rượu.

Phường lúa có 2 phường. Mỗi phường 8 nhà. Mỗi nhà góp 1 vụ 150 kg (tất cả là 1050kg). Mỗi vụ lấy 1 hộ lấy. Khi lấy phường, thì mỗi người mang 20 000 cùng sinh hoạt chung. Với các phường lúa, ai muốn lấy thóc thì theo nhu cầu. Đây cũng là coi như giúp tay nhau. Với người chơi phường thóc, giá thóc có tăng giảm cũng không quan trọng.

Gần đây, thanh niên trong làng đang rủ nhau làm họ xi. Dự kiến có 6 người chơi.

Khả năng hợp tác

Khi bàn về khả năng hợp tác với RDSC, ông trưởng thôn cho rằng có thể cùng phối hợp:

1. xây dựng phường xây nhà vệ sinh và chuồng trâu bò để sạch sẽ thôn làng và có thêm phân bón.

2. Tổ chức dịch vụ tiêm chủng cho lợn, tiến tới phát triển dịch vụ bảo hiểm cho lợn. Trước mắt dự án nên hỗ trợ tổ thú y khuyến mãi 50% phí tiêm chủng;

3. Xây dựng và duy trì Câu lạc bộ nuôi lợn nái. Hoạt động của câu lạc bộ có thể là tập huấn nâng cao kỹ thuật cho các thành viên, tọa đàm chia sẻ kinh nghiệm nuôi lợn, hỗ trợ chi phí tiền đi lại cho các hộ nuôi lợn giống để cải tạo đàn lợn giống của thôn.

Số lượt đọc:  33  -  Cập nhật lần cuối:  18/05/2009 02:46:43 PM
Bài mới:  
Bài đã đăng:
Các bài được đọc nhiều nhất
23/11/2009 12:49' PM
Tham quan trại nuôi gà và nuôi giun tại xã Xuân Lũng
14/09/2009 03:52' PM
Kỹ thuật chăn nuôi thỏ quy mô hộ gia đình tại Phú Thọ
26/11/2006 01:19' AM
Tài liệu về Chương trình 135 Giai đoạn 2 (2006-2010)
08/04/2009 05:33' AM
Vai trò giới trong phân công lao động gia đình ở Việt Nam qua những biến động xã hội
16/07/2006 09:01' AM
Kỹ thuật Trồng và Chăm sóc Tre Bát độ để lấy Măng
24/06/2006 08:54' AM
Viết Thu hoạch sau Cuộc Tham quan Học tập
14/09/2009 10:06' PM
Kỹ thuật trồng nấm mèo
15/06/2010 08:40' PM
Mẹo sử dụng và cài đặt font tiếng Việt cho SPSS 15 và 16
11/03/2009 05:51' AM
Chia sẻ kỹ thuật chăm sóc heo nái khi sanh sản và hậu sanh sản
21/02/2008 09:24' AM
Hướng dẫn lập và sử dụng trang web qua My.opera.com
Đăng ký nhận tin thư
Họ và tên:
Email:
Tổng số lượt truy cập: 5.776.303
Số người trực tuyến: 35

©2004 Bản quyền Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn - RDSC
Số 2 nhà D, 45/39 Hào Nam, Đống Đa, Hà Nội,Việt Nam
Email: rdsc@netnam.vn - Phone: +84-4-3-512 1175 - Fax: +84-4-3-512 1175
Website được xây dựng trên Công nghệ ViePortal của Hanoi Software JSC