RDSCVN
Đang tải dữ liệu...

Giới thiệu RDSC    |    Tin tức sự kiện    |    Diễn đàn    |    IDMA    |    Video    |    Âm thanh    |    Gallery    |    Slide show

Trưng cầu ý kiến
Dành cho các anh/chị kế toán.
Trong thực tế, Anh/chị dùng phần mềm kế toán chuyên dụng chủ yếu để làm việc gì? Không chọn quá 3 phương án.
 
Hỗ trợ trực tuyến
Vùng Phú Thọ

Báo cáo tiến độ thực hiện dự án Tăng cường sự tham gia của nhân dân trong phát triển kinh tế xã hội: Phần 4. Hoạt động liên huyện

Phần 4. Hoạt động liên huyện để tăng cường các giá trị thiên vị người nghèo và bình đẳng giới

Nhằm tăng cường các giá trị thiện vị cho người nghèo và bình đẳng giới cho hệ thống khuyến nông, dự án có các hoạt động liên huyện để thúc đẩy việc hình thành và phát triển hai mạng lưới dịch vụ cho nông dân, nhất là nông dân nghèo người dân tộc thiểu số, và phụ nữ là mạng lưới khuyến nông và mạng lưới tín dụng. Trong thời gian dự án, hai mạng lưới hình thành và hoạt động như những tổ chức cộng đồng có quy mô liên huyện. Về nguyên tắc, hai mạng lưới hoạt động độc lập với RDSC và được sự hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật của dự án. RDSC cũng có những hoạt động cấp quốc gia gắn với hoạt động của dự án.

4.1. Mạng lưới khuyến nông-thú y

Bằng cách tập hợp trong các mạng lưới các cán bộ các tổ chức dịch vụ phục vụ nông dân của các đối tác trong các xã tham gia, dự án thông qua việc thúc đẩy các thành viên mạng lưới làm việc, phục vụ cho các nhóm nghèo, dân tộc thiểu số như là một cách trực tiếp thúc đẩy các giá trị thiên vị cho người nghèo, phụ nữ và người dân tộc.

Được hình thành từ tháng 4 năm 2009, Mạng lưới khuyến nông thú y là một hình thức liên kết chuyên ngành giữa những cán bộ khuyến nông thú y cơ sở (cấp thôn, xã huyện) với mục đích tăng cường năng lực chuyên môn cho các thành viên, cải thiện chất lượng dịch vụ cho cộng đồng, và đóng góp tiếng nói phản hồi từ cộng đồng về các chính sách nông nghiệp và nông thôn. Cho đến thời điểm hiện nay, Mạng lưới có 14 đại diện thay mặt cho 14 tổ thú y xã và khuyến nông các xã, với 115 thành viên, trong đó về chăn nuôi – thú y có 90 thành viên, khuyến nông là 10 thành viên, trạm thú y Thanh Sơn cũng là một thành viên của mạng lưới.

Nâng cao năng lực chuyên môn và tập huấn cho cộng đồng

Mạng lưới duy trì sinh hoạt thường kỳ mỗi tháng một lần, đồng thời lồng ghép tuyên truyền, trao đổi kinh nghiệm về chuyên môn cho các thành viên trong Mạng. Ngòai những cuộc tọa đàm Mạng lưới còn tổ chức tập huấn kỹ thuật thú y cơ bản cho 24 gia đình tại thôn bản thuộc hai xã Xuân Đài, Kim Thượng huyện Tân Sơn và tổ chức tập huấn lồng ghép thực nghiệm mô hình bảo quản và chế biến thức ăn cho đại gia súc qua vụ Đông năm 2008 tại 3 điểm thuộc thôn Chiềng xã Kim Thượng và thôn Mu xã Xuân Đài, thôn Còn xã Thu Ngạc. Số thành viên tham gia trong 3 lớp là 60 người, hầu hết là người nghèo và phụ nữ dân tộc thiểu số.

Đến tháng 5 năm 2009, các tổ khuyến nông của ba xã trong dự án đã ký hợp đồng với dự án và triển khai tập huấn các kỹ năng chăn nuôi, trồng trọt và thú y cho các hộ nghèo tham gia các nhóm giảm nghèo người dân tộc ở các thôn lựa chọn. Các khuyến nông viên cơ sở, các thú y thôn bản, và các hộ nông dân giỏi được chọn làm nòng cốt trong việc chuyển giao kỹ thuật phù hợp cho các hộ nghèo, phụ nữ và người dân tộc.

Theo kế hoạch, cho đến tháng 9 năm 2009, Mạng lưới sẽ tổ chức một Cuộc toạ đàm về chính sách nông nghiệp và tổ chức tập huấn một chương trình tập huấn nâng cao cho các tổ chức thành viên còn yếu và qua đó tổ chức cấp chứng chỉ hành nghề cho thú y cơ sở.

Kinh doanh tủ thuốc

Để hỗ trợ cho các thành viên hoạt động có hiệu quả, Mạng lưới đã thành lập một tủ thuốc thú y với tổng ngân sách là 40,8 triệu, trong đó tài sản cố định là 7 triệu và vốn lưu động để kinh doanh là 33,8 triệu đồng. Phần vốn mà dự án hỗ trợ cho tủ thuốc là 35,8 triệu, các thành viên đóng góp vốn đối ứng là 5 triệu đồng. Tủ thuốc giúp cho các thành viên chủ động về thuốc và giá thành phù hợp được mua từ các hãng thuốc thú y có uy tín và chất lượng.

Mạng lưới thú y đã xây dựng Quy chế hoạt động của tủ thuốc được các thành viên thống nhất thông qua và niêm yết. Việc tổ chức cơ cấu thuốc trong giai đoạn ban đầu chưa phù hợp với biến động của bệnh dịch, vì vậy việc bổ xung và lưu trữ các loại thuốc không đồng đều, có loại thiếu, có loại thừa. Mạng lưới thú ý đã có quyết định hạ gía thuốc ứ đọng để bán nhanh các loại thuốc sắp quá hạn. Từ tháng 10 đến nay, tổng số tiền lưu tại quỹ thu được là 14,2 triệu, nợ đọng là 5,4 triệu. Mạng lưới đã có kế hoạch mua thuốc bổ sung để phục vụ theo nhu cầu đã đăng ký của các thành viên trong các xã của ba huyện và Trạm thực nghiệm tại các thôn dự án.

Duy trì Quỹ vật nuôi

Cuối Giai đoạn I (2007) của dự án, Quỹ quay vòng vật nuôi được thực hiện trên bốn xã Tân Lập, Yên Lương , Thu Ngạc, Thu Cúc, với tổng số 150 con. Qua 2 năm triển khai đã thanh lý dê tại xã Thu Cúc và Yên Lương, số tiền thu về được nhập vào quỹ của RDSC PT. Quỹ này chưa cải thiện nhiều về kinh tế của các hộ tham gia mà tạo một động lực cho họ lợi dụng trong mùa rét để bán trộm dê, dẫn đến sự phát triển của đàn dê ngày càng giảm về số lượng mẹ và con sinh ra. Theo cán bộ dự án phụ trách, qua theo dõi và giám sát cho thấy một số thành viên không muốn nuôi, đã có ý định bán và đã tự bán dê không thông qua trưởng khu hoặc Ban giảm nghèo xã; điều này có thể thấy nhiều ở Quỹ nuôi dê Thu Ngạc. Hiện tại tổng số đàn dê là 99 con cả to và nhỏ nằm ở các thôn Nà Nờm và Sài của xã Thu Ngạc và Thôn Nưa Thượng của xã Tân Lập.

4.2. Mạng lưới tài chính vi mô

Mạng lưới các Quỹ Tín dụng Phụ nữ đươÌ£c thaÌ€nh lâÌ£p tưÌ€ tháng 1 năm 2008 với sưÌ£ tham gia của 12 tổ chức tín duÌ£ng đươÌ£c các dự án do RDSC thực hiện, thúc đẩy taÌ£i 76 thôn trong 12 xã trong 3 huyện Thanh Thủy, Tân Sơn và Thanh Sơn của tỉnh Phú ThoÌ£. Có ba tổ chức thaÌ€nh viên có hình thành sớm có trên 10 kinh nghiệm, ví duÌ£ Quỹ tín duÌ£ng PhuÌ£ nữ PhươÌ£ng Mao, Yến Mao vaÌ€ Tu Vũ. Hai Quỹ tín dụng chức trẻ tuổi nhất hiÌ€nh thaÌ€nh trong năm 2008 ở xã Xuân ĐaÌ€i vaÌ€ Kim ThươÌ£ng.

Theo báo cáo của điều phối viên mạng lưới, tính đến tháng 1 tháng 5 năm 2009, các Quỹ tín dụng phụ nữ (không kể ba quỹ Phượng Mao, Yến Mao, Tu Vũ của huyện Thanh Thủy) đang phuÌ£c vuÌ£ trên 5200 thành viên, hay là 35% tổng số hội viên HPN các xã. Trong số thành viên, có 65% là các hộ nghèo, và hầu hết các thành viên khác là các hộ cận nghèo. Tổng số vốn hoaÌ£t đôÌ£ng của các Quỹ là 910 triệu VND, trong đó cộng đồng huy động được 44%. Trong số thành viên, 77% là người dân tộc thiểu số, với đa số là người Mường (71% tổng số thành viên).

Mỗi năm, các thành viên của các quỹ (không kể ba xã nói trên) thực hiện khoảng 2000 món đầu tư, trong đó 60% là đầu tư vào chăn nuôi, 25% đầu tư là trồng trọt. Có khoảng 7% các món đầu tư là phi nông nghiệp. một phần đáng kể, 9%, các món đầu tư là chi cho học hành.

Hiện tại các Quỹ hoạt động ở Quy mô xã, và tham gia định kỳ các sinh hoạt của mạng lưới để chia sẻ kinh nghiệm quản lý và các kỹ năng cung cấp cách dịch vụ tài chính quy mô nhỏ. Mạng lưới cũng tổ chức tham quan giữa các thành viên để học tập và rút kinh nghiệm. Trong nhiều năm, các Quỹ tín dụng vẫn một hoạt động phát triển cộng đồng có tác dụng giảm nghèo và tạo quyền cho phụ nữ, và thu hút được sự quan tâm cao của các tổ chức phát triển trong nước, các đoàn thể và chính quyền các tỉnh bạn.

Ngày 28 tháng 10 năm 2008, tại Bảo Yên, huyện Thanh Thủy, Phú Thọ, dự án đã hỗ trợ Mạng lưới Các Quỹ Tín dụng PhuÌ£ nữ vaÌ€ HôÌ£i PhuÌ£ nữ ba huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Thanh Thủy tổ chức Hội thảo lần 1 vêÌ€ “Chuyển đổi các Quỹ Tín dụng PhuÌ£ nữ theo Nghị định 28/CP và nghị định sửa đổi 165/CP”. Hội thảo thu hút gần 30 tham dưÌ£ viên đến từ 12 Quỹ tín dụng phụ nữ địa phương, đaÌ£i biểu của các Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Thanh Sơn và Thanh Thủy. Hội thảo đã xem xét khả năng hình thành một tổ chức tài chính vi mô chính thức có tư cách pháp nhân để hoạt động độc lập.

Xem xét lại ý tưởng về xây dựng Quỹ tín dụng nhân dân đã được Quỹ Tín dụng Yến Mao nêu ra từ năm 2006, từ tháng 3 năm 2009, Mạng lưới tiếp tục xem xét khả năng xây dựng một tổ chức chính thức theo hướng thành lập Hợp tác xã Dịch vụ khuyến nông-tín dụng. Ngày 15 tháng 5 năm 2006, hai mạng lưới khuyến nông và tài chính vi mô đã họp và thành lập Ban Vận động thành lập HTX Dịch vụ Khuyến nông-Tín dụng. Về mặt chính sách, hình tổ chức này được UBND tỉnh Phú Thọ khuyến khích thành lập. Chính quyền có thể hỗ trợ khi thành lập tới 12 triệu đồng, có chính sách ưu đãi cấp đất xây trụ sở, được hỗ trợ tới 100 triệu đ khi xây dựng trụ sở tại các xã 135 hoặc xã nghèo, ngoài các xã trên được hỗ trợ 50 triệu. HTX khi tham gia Liên minh hợp tác xã còn được ưu tiên các chế độ tập huấn và được vay lãi suất thấp để phát triển phương án kinh doanh.

Nhu cầu xây dựng một tổ chức dịch vụ của nông dân và phụ nữ chính quy là một thực tế khách quan sau hơn 15 năm xây dựng các quỹ tín dụng phụ nữ ở ba huyện. Một thách thức lớn nhất của tiến trình là xây dựng được một đội ngũ cán bộ quản lý và nhân viên chuyên nghiệp trên nền tảng đội ngũ cán bộ hoạt động kiêm nhiệm hiện tại. Thách thức không nhỏ khác là xây dựng được cơ chế hoạt động cho phéo duy trì và phát triển sự tin tưởng giữa các Quỹ tín dụng phụ nữ thành viên và giữa hai mạng lưới trong quá trình hoạt động chung với nguồn vốn chung được góp lại từ các xã riêng biệt. Quãng thời gian tới hết dự án còn 4 tháng có thể là quá ngắn để hoàn thiện về tổ chức, nếu Ban Trù bị thành lập HTX không hoạt động tích cực.

4.3. Tham gia các hoạt động mạng lưới chuyên môn

Với các hỗ trợ từ các tổ chức khác, RDSC còn tham gia các hoạt động chuyên môn ở cấp quốc gia với các nhóm chuyên môn có tác dụng đóng góp cho các chính sách phục vụ cho người nghèo. Các hoạt động này gián tiếp góp phần cải thiện các giá trị thiên vị nghèo và

Trong tháng 3 năm 2009, qua thảo luận với Viện Phát triển Bền Vững vùng Nam bộ, tiếp cận hỗ trợ người người biết và sự dụng có hiệu quả các hỗ trợ từ chính sách đã được Viện tiếp nhận và Viện đang vận động một số tỉnh Nam Bộ thực hiện.

Các mô hình khuyến nông và phương pháp phát triển các tổ chức cộng đồng của các dự án do RDSC thực hiện đã được phổ biến cho nhiều tổ chức đoàn thể, chính quyền và NGO quốc tế và trong nước. CARE đã tổ chức tham quan cho 39 đại biểu từ các tổ chức đối tác là Hội Phụ nữ tỉnh Bắc Kạn, huyện trong 3 tháng 12 năm 2008 và thăm các mô hình ở thôn Cón xã Thu Cúc. Các kinh nghiệm của RDSC cũng được chia sẻ với đoàn thăm quan của CSEED và 40 thành viên đoàn thăm quan của các cơ quan chính quyền, và các cơ quan chức năng của huyện Chợ Mới Bắc Kạn tới hai huyện Tân Sơn và Thanh Thủy vào 7-10 tháng 4 năm 2009. Cuộc tham quan của đoàn Bắc Kan được tổ hức như một cuộc đánh giá tác động cho các dự án trước đây, và đã có một báo cáo riêng.

RDSC đã có báo cáo về cách thức huy động cộng đồng làm công tác vận động chính sách ở cơ sở được báo cáo tại các hội nghị trong nước chú ý, như Hội nghị do CODE và NGO-RC tổ chức 23 tháng 10 năm 2008 tại Hà Nội. Với các kinh nghiệm của mình, RDSC cũng tích cực tham gia đóng góp các ý kiến trong các cuộc thảo luận về thực hiện chính sách nông nghiệp, nông dân, và nông thôn tại Hội nghị về chuyên đề này của Đại học Nông lâm Huế tháng 12 năm 2008, hoặc Hội thảo về đóng góp của các tổ chức Phi chính Phủ do Trung ương Liên Hiệp các Hội khoa học Kỹ thuật tổ chức ở Hà Nội ngày 10 tháng 3 năm 2009.

RDSC có vị trí và tiếng nói quan trọng trong mạng lưới CDG về hợp tác phát triển. Những bài học kinh nghiệm và phương pháp giảm nghèo theo cách làm của RDSC tại Phú Thọ được chia sẻ với các thành viên của mạng lưới này một cách thường xuyên.

RDSC đã khởi xướng sự hợp tác giữa 8 tổ chức khoa học về phát triển nông thôn và giảm nghèo từ cuộc gặp ngày 7 tháng 12 năm 2008 tại thành phố Huế. Nhóm các tổ chức này đã tạo điều kiện cho nhân viên của nhau các cơ hội tham quan trao đổi kinh nghiệm, và học tập qua các chương trình tập huấn.

RDSC cũng tích cực tham gia các cuộc thảo luận và tham vấn của các ngân hàng phát triển như WB và ADB về các chính sách của họ như chính sách bảo vệ môi trường, tái định cư, hoặc công khai thông tin.

Trang web http://rdscvn.org của RDSC đã có tác dụng tốt trong việc giới thiệu các hoạt động và bài học, kinh nghiệm và cách làm việc của dự án. Tính tù 1/9/2008 đến hết ngày 20 tháng 5 năm 2009, đã có hơn 103 bài viết được công bố. Thống kê của quản trị web cho thấy đã có 5702 lượt truy cập bài trong thời gian này. Trung bình một bài được truy cập 57 lượt. Trong các bài viết cuả giai đoạn này, có 9 bài có trên 100 lượt người truy cập (xem chi tiết tên các bài viết trong Phụ lục) với 1700 lượt truy cập. Cũng trong giai đoạn này, có 19 bài có trên 50 lượt truy cập, với tổng số lượt truy cập với tổng số lần truy cập là 1300.

Số lượt đọc:  39  -  Cập nhật lần cuối:  22/06/2009 12:16:45 AM
Bài mới:  
Bài đã đăng:
Các bài được đọc nhiều nhất
23/11/2009 12:49' PM
Tham quan trại nuôi gà và nuôi giun tại xã Xuân Lũng
14/09/2009 03:52' PM
Kỹ thuật chăn nuôi thỏ quy mô hộ gia đình tại Phú Thọ
26/11/2006 01:19' AM
Tài liệu về Chương trình 135 Giai đoạn 2 (2006-2010)
08/04/2009 05:33' AM
Vai trò giới trong phân công lao động gia đình ở Việt Nam qua những biến động xã hội
16/07/2006 09:01' AM
Kỹ thuật Trồng và Chăm sóc Tre Bát độ để lấy Măng
24/06/2006 08:54' AM
Viết Thu hoạch sau Cuộc Tham quan Học tập
14/09/2009 10:06' PM
Kỹ thuật trồng nấm mèo
15/06/2010 08:40' PM
Mẹo sử dụng và cài đặt font tiếng Việt cho SPSS 15 và 16
11/03/2009 05:51' AM
Chia sẻ kỹ thuật chăm sóc heo nái khi sanh sản và hậu sanh sản
21/02/2008 09:24' AM
Hướng dẫn lập và sử dụng trang web qua My.opera.com
Đăng ký nhận tin thư
Họ và tên:
Email:
Tổng số lượt truy cập: 5.776.299
Số người trực tuyến: 32

©2004 Bản quyền Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn - RDSC
Số 2 nhà D, 45/39 Hào Nam, Đống Đa, Hà Nội,Việt Nam
Email: rdsc@netnam.vn - Phone: +84-4-3-512 1175 - Fax: +84-4-3-512 1175
Website được xây dựng trên Công nghệ ViePortal của Hanoi Software JSC