RDSCVN
Đang tải dữ liệu...

Giới thiệu RDSC    |    Tin tức sự kiện    |    Diễn đàn    |    IDMA    |    Video    |    Âm thanh    |    Gallery    |    Slide show

Trưng cầu ý kiến
Dành cho các anh/chị kế toán.
Trong thực tế, Anh/chị dùng phần mềm kế toán chuyên dụng chủ yếu để làm việc gì? Không chọn quá 3 phương án.
 
Hỗ trợ trực tuyến
Vùng Phú Thọ

Báo cáo tiến độ thực hiện dự án Tăng cường sự tham gia của nhân dân trong phát triển kinh tế xã hội: Phần 3. huyện Tân Sơn

Phần 3. Kết quả dự án tại huyện Tân Sơn

Tại huyện Tân Sơn, dự án thực hiện các hoạt động hướng về ba mục tiêu ở xã Thu Cúc trong hai thôn người Mường lựa chọn từ năm đầu là Thôn Chiềng 2 và Thôn Cón. Sang năm thứ hai, dự án bắt đầu mở rộng sang thôn Tân Lập là thôn người Dao, và đang tìm hiểu khả năng thực hiện các hoạt động mở rộng ở thôn Mỹ Á- thôn người H’Mông.

Tại cộng đồng hai thôn của hai xã Xuân Đài và Kim Thượng, dự án thực hiện thúc đẩy phát triển du lịch cộng đồng như một phương thức tạo thu nhập mới dựa trên thế mạnh về đặc trưng văn hóa dân tộc của bà con người Mường ở địa phương. Tuy nhiên những biến động trên thế giới về khủng hoảng tài chính trong năm 2009, những nạn dịch về cúm gia cầm, và cúm heo đã hạn chế nghiêm trọng dòng khách du lịch vào trong nước và ảnh hưởng xấu tới việc phát triển du lịch nói chung, và du lịch cộng đồng nói riêng.

3.1. Cải thiện cơ cấu thu nhập của người nghèo và phụ nữ

Như đã điều chỉnh lại phương hướng từ năm 2007, tại huyện Tân Sơn, trong ba xã dự án[1] của Giai đoạn I, trong giai đoạn II, hoạt động cải thiện thu nhập cho người nghèo, phụ nữ và bà con dân tộc được thực hiện chuyên đểở một xã là Thu Cúc. Hai thôn trọng điểm của năm thứ nhất là Cón và Chiềng 2 (cả hai thôn người Mường), và hai thôn mở rộng trong năm thứ hai là Tân Lập (Thôn người Dao) và Mỹ Á (Thôn người Mông).

3.1.1. Trạm thực nghiệm

Trạm Thu Cúc hình thành từ tháng 7 năm 2008 đến tháng 8 năm 2008 hoàn thiện và đi vào hoạt động trên tại thôn Chiềng 2, xã Thu Cúc diện tích gần 4 sào Bắc Bộ. Các loại cây thức ăn gia súc, như cải xanh, cải bắp, khoai lang, đậu, chuối, chè đại, cỏ ghi-nê, ngô, đã được trồng.

Từ tháng 11 năm 2008, trạm đã tiếp nhận 14 con lợn Móng Cái, 50 con thỏ, và 60 con gà địa phương để nuôi chung cho cả chương trình, trong khi chờ trạm thực nghiệm Yên Lương và Tân Lập hoàn thiện. Tới tháng 3 năm 2009, Trạm đã chuyển 9 con lợn nái giống về trạm thực nghiệm xã Tân Lập và Yên Lương. Do các loại dịch bệnh khác nhau tuy đã sát sao theoo dõi và điều trị, số lượng lợn còn 4 con, thỏ còn 41 con (từ 50 con ban đầu), và gà là 14 con. Đến nay, có 4 con thỏ được phối giống 20 ngày, một con lợn phối giống được 2 tháng, một con lợn phối giống được 1 tháng. Đàn gà đã có hai con đẻ trứng. Đến nay, tất cả vật nuôi trong trạm (thỏ, gà, lợn) đã được các loại tiêm vắc xin phòng bệnh cơ bản đợt hai.

Để kiểm soát dịch bệnh của vật nuôi trong trạm, xúc tác viên phụ trách tại xã Thu Cúc đã mời thú y cộng đồng hợp tác và làm cộng tác viên cho trạm, hàng ngày đến kiểm tra tình hình bệnh dịch của vật nuôi, đồng thời cũng là tập huấn viên cho các hộ nghèo trong thôn.

Hiện tại, chuồng gia súc, như chuồng thỏ và chuồng lợn đang đi vào hoàn thiện, hoạt động của trạm đang đi vào quỹ đạo. Trạm vẫn ở giai đoạn củng cố, tuy chưa đem lại thu nhập, hiện nay trạm đã tự cung cấp được rau cho vật nuôi.

Cộng đồng ở thôn Chiềng 2 đã tham gia tích cực bằng nhiều phương thức khác nhau trong hoạt động của Trạm. Một thành viên của nhóm hộ nghèo trong thôn được tuyển chọn làm công nhân của trạm. Công nhân được hướng dẫn kỹ thuật về chăm sóc cho cây trồng, vật nuôi trong trạm và là người có tinh thần trách nhiệm trong công việc.Với sự đồng ý của gia đình, 12 em thiếu nhi trong thôn Chiềng 2 đã tham gia đỡ đầu và chăm sóc đàn thỏ. Các em được hướng dẫn về cây thức ăn cho thỏ, cách cho ăn, cho uống, bắt giữ thỏ, nhận dạng giống đực cái. Các em kết hợp công việc thả trâu trên những gò đồi gần nhà với việc kiếm thức ăn cho thỏ ăn. Trạm dự kiến khi thỏ sinh sản, các em được chia thỏ giống để nuôi tại gia đình. Cộng tác viên thú y của trạm cũng thường xuyên tham gia theo dõi sức khỏe, khám chữa bệnh đàn gia súc gia cầm.

3.1.2. Nâng cao kỹ thuật nông nghiệp cho hộ nghèo dân tộc

Trong giai đoạn báo cáo, dự án đã tổ chức được bốn cuộc tập huấn về kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt. Các tập huấn viên chính là cộng tác viên khuyến nông, thú y của RDSC trong nhiều năm liền (có cộng tác viên là người dân tộc Dao), có kinh nghiệm trong chữa trị các bệnh cơ bản trong trồng trọt và chăn nuôi. Tham dự viên của cả 4 cuộc tập huấn đều là nhóm 18 hộ nghèo (toàn người Mường) trong thôn Chiềng 2. Tuy nhiên, có 5 hộ thường xuyên không tham gia các lớp tập huấn này.

Về trồng trọt, dự án mời tập huấn viên chính là khuyến nông xã hướng dẫn các hộ nghèo về cách ủ mạ, gieo mạ, chăm sóc mạ vụ đông xuân, các bệnh của cây lúa, dùng phương pháp tập huấn đầu bờ: vừa trình bày lý thuyết, vừa trực tiếp ra cánh đồng hướng dẫn người dân thực hiện.

Về chăn nuôi, tập huấn viên cũng được chọn từ thú y xã để trình bày các loại bệnh thường gặp của gà, lợn và có phần thảo luận, hỏi đáp giữa hai bên. Với sự sinh động của phương pháp, buổi tập huấn thường mang lại hiệu quả cao, tham dự viên có thể áp dụng ngay trong gia đình mình.

Trong thời gian còn lại, dự án tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động tập huấn cho nông dân ở các thôn dự án để người dân có thể kỹ thuật trong trồng trọt, trong chăn nuôi cũng như cách phòng chống các loại bệnh trong trồng trọt và chăn nuôi vào gia đình một cách hiệu quả.

Tại thôn Cón, Viện thổ nhưỡng Nông hóa trong 4 năm qua đang thực hiện có hiệu quả các chương trình khuyến nông về kỹ thuật thâm canh cây lúa, ngô, mô hình phân vi sinh, nghiên cứu đất đai. Các hoạt động tập huấn kỹ thuật nông nghiệp của dự án do RDSC thực hiện, do vậy, thực hiện tập trung cho nhóm 14 hộ dân nghèo thiên về mảng chăn nuôi. Bác sỹ thú y là cán bộ của dự án tại Thu Cúc đã thực hiện một cuộc tập huấn về cách bệnh truyền nhiễm trong chăn nuôi.

3.2. Tăng cường sự tham gia của nhân dân

Để cải thiện việc “dân biết”, cùng hợp tác với các cơ quan chuyên môn của chính quyền cơ sở, Dự án cung cấp thông tin cho các hộ nghèo về các chính sách hỗ trợ người nghèo của chính, các quyền lợi của họ và các hưởng thụ các quyền lợi đó. Để tăng cường “dân làm”, dự án đã thúc đẩy các hộ nghèo hưởng thụ các hỗ trợ về giống, phân bón của chính phủ bằng việc hỗ trợ cộng đồng người nghèo có đủ lương thực vào lúc giáp hạt và có đủ phân bón vào các thời điểm chăm sóc lúa.

3.2.1. Tọa đàm chính sách

Là một xã dân tộc miền núi, thực hiện bình đẳng giới trong thực tiễn cuộc sống ở cộng đồng xã Thu Cúc cũng có những bất cập. Tại cuộc tọa đàm về pháp lệnh bình đẳng giới được dự án phối hợp với Hội phụ nữ xã tổ chức vào chiều ngày 5 tháng 3 năm 2009 tại Phòng họp UBND xã, lãnh đạo của xã cho biết các biểu hiện của bất bình đẳng giới còn phổ biến, và một nguyên nhân quan trọng là nhận thức về bình đẳng giới còn có hạn trong cộng đồng và cả trong các đoàn thể và chính quyền cơ sở. Cuộc tọa đàm đã góp phần đáp ứng nhu cầu về tăng cường nhận thức những vấn đề bình đẳng giới, cũng là hoạt động thiết thực kỷ niệm ngày Phụ nữ Quốc tế 8 - 3. Tham dự toạ đàm, có đại diện của Hội Phụ nữ huyện Tân Sơn, đảng uỷ xã Thu Cúc, HPN xã Thu Cúc, hai trưởng thôn Cón và thôn Tân Lập, và sáu nữ đại biểu của 3 thôn Chiềng 2, Cón và Tân Lập. Tuy thiếu vắng đại biểu của các đoàn thể khác như Hội nông dân, cuộc tọa đàm về bình đẳng giới đã thành công bước đầu trong việc nâng cao nhận thức về bình đẳng giới, và góp phần nhìn nhận thực tiễn thực hiện pháp lệnh bình đẳng giới trong thực tế, và xây dựng các biện pháp cải thiện. Cuộc tọa đàm cũng là một bài học tốt để dự án tổ chức các tọa đàm tương tự tại các hai xã dự án khác.

Hiện tại, theo đề nghị của chính quyền xã, dự án đã tổ chức một cuộc điều tra định lượng để tìm hiểu về bình đẳng giới trong 4 thôn của xã Thu Cúc. Hiện tại, các bảng hỏi đang được xử lý bằng phần mềm SPSS và phân tích đánh giá sau khi hoàn thành xử lý số liệu để báo cáo cho UBND xã.

Trong thời gian tới, dự án có kế hoạch thực hiện các cuộc tọa đàm về chương trình P61 (chương trình hỗ trợ 61 huyện nghèo, Nghị định 151 về các tổ hợp tác xã,... để người dân được tiếp cận và sử dụng các quyền từ các chính sách của nhà nước.

3.2.2. Hoạt động của các quỹ tại thôn

Trong tháng giáp Tết, các hộ nghèo ở thôn Cón không có khả năng nộp tiền quỹ vật tư cũng như tiếp tục thực hiện quỹ quay vòng lương thực trong vụ này, dự án đã tạm thời hoãn thực hiện tiếp vòng hai của Quỹ quay vòng lương thực và quỹ vật tư nông nghiệp trong vụ này.

Tại thôn Chiềng 2 Quỹ quay vòng lương thực tiếp tục được thực hiện với 18 hộ nghèo nhất. Các hộ tham gia Quỹ đều là người dân tộc Mường. Có 6 hộ gia đình được nhận lúa trong lần quay vòng thứ hai này. Các hộ nhận đều là những hộ thiếu ăn nhất của nhóm. Quỹ đã đáp ứng mong đợi của người nghèo về lương thực trong những tháng giáp hạt.

Cũng tại thôn Chiềng 2, dự án tiếp tục thực hiện Quỹ quay vòng vật tư với điều chỉnh đối tác quản lý là Quỹ Tín dụng phụ nữ xã Thu Cúc để giảm bớt đầu mối quản lý. Quỹ tín dụng phụ nữ đã tiếp nhận nguồn vốn là 6 triệu đồng cho 20 hộ nghèo người Mường trong thôn vay. Dự án đã cùng với Chi hội Phụ nữ thôn Chiềng 2 thảo luận và thống nhất với người vay để vay phân bón về loại phân bón mà họ cho là phù hợp và người dân chủ động quyết định cách thức giải quyết nhu cầu về phân bón của chính mình, tránh được những “cọ xát” về giá cả vật tư.

Quỹ vật tư phân bón

Quỹ vật tư phân bón đã cung cấp phân bón cho người nghèo theo đúng thời kì cho cây lúa. Cây lúa của những thành viên tham gia Quỹ đã phát triển tốt và đạt năng suất cao hơn trước, số bông hữu hiệu cao hơn hẳn các hộ nghèo đối chiếu trong cộng đồng và những hộ khác trong thôn. Quỹ cũng đã nâng cao kiến thức và kỹ năng thâm canh lúa cho nhóm hộ nghèo. Tuy nhiên, nên tư vấn cho hộ nghèo thêm về phòng trừ sâu bệnh, cụ thể là bệnh đạo ôn và sâu rầy. Phương pháp tập huấn cần sát thực trên đồng ruộng và cần cụ thể theo chu kỳ phát triển của cây luá. Dự án cũng nên mở rộng phạm vi hoạt động chuyển từ giúp phân bón cho một nhóm hộ nghèo nhất định sang tất cả hộ nghèo trong thôn thông qua hoạt động Quỹ tín dụng phụ nữ.

Báo cáo Đánh giá Quỹ Vật tư Phân Bón ở Thu Cúc, Nguyễn Thị Đến (2008)

Nguồn: http://rdscvn.org/webplus/viewer.asp?pgid=22&aid=432

3.3. Tăng thu nhập thông qua du lịch cộng đồng

Sau những hoạt động nghiên cứu khả thi vào năm 2007, dự án đã triển khai hoạt động thúc đẩy phát triển du lịch cộng đồng được thưc hiện tại hai thôn Vượng và Chiềng là dân tộc Mường thuộc hai xã Xuân Đài – Kim Thượng thuộc vùng đệm vườn quốc gia Xuân Sơn. Đây cũng là vùng được chính quyền tỉnh và huyện xác định là khu vực được ưu tiên đầu tư phát triển du lịch sinh thái trên cơ sở khai thác tiềm năng của vườn quốc gia Xuân Sơn.

3.3.1. Phát triển các tổ chức cộng đồng cung cấp các dịch vụ


Trong 06 tháng đầu giai đoạn 2 của dự án đã củng cố lại Ban quản lý và thống nhất qui chế hoạt động, ra quyết định thành lập tổ nhóm từ phía UBND xã. Các nhóm Nhà lưu trú, thổ cẩm, đội văn nghệ, con giống bản địa, tổ thú y, quỹ tín dụng đều được thống nhất lại qui chế hoạt động và đi vào sinh hoạt hàng tháng.

Tổ Dịch vụ Nhà lưu trú

Tổ hiện có 10 thành viên tham gia đều thuộc nhóm hộ trung bình và khá, được phân bổ theo 2 thôn. Tại thôn Vượng tổ có 4 thành viên, thôn Chiềng -- 6 thành viên. Tổ được dự án hỗ trợ về vốn xây dựng, tư vấn thiết kế nhà cửa để đón khách lưu trú. Các hộ được tập huấn về kiến thức vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân và an toàn thực phẩm. Đại diện các hộ đã được đi thăm quan một công ty kinh doanh dịch vụ nhà lưu trú tại huyện Thanh Thuỷ.

Đến nay, tổ đã xây dựng và đưa vào sử dụng 10 công trình vệ sinh khép kíp gồm 2 kiểu mẫu khác nhau được lắp đặt trang thiết bị đẩy đủ thiết bị vệ sinh với giá trị tính cho một công trình trong khoảng từ 10 đến 12 triệu đồng. Để xây dựng các công trình vệ sinh, vào đầu tháng 3/2009, dự án đã hỗ trợ cho tổ vay 40 triệu đồng phân bổ đều cho 2 thôn với 8 thành viên vay vốn (2 thành viên tự túc vốn). Như vậy, một thành viên được vay 5 triệu đồng với lãi suất 0,5%/tháng và thời hạn trả 12 tháng theo hình thức trả góp theo quý nhằm quay vòng cho các hộ khác. Các hộ vẫn tiếp tục nâng cấp và sửa chữa nhà để đón khách; dự kiến tổ sẽ hoàn thiện và có thể đón khách trong tháng 5 năm 2009.

Tổ sản xuất thổ cẩm

Đây là một đóng góp của Dự án trong điều kiện tại hai thôn Vượng và Chiềng, Uỷ ban dân tộc tỉnh đã tổ chức dạy nghề thổ cẩm. Lớp dậy nghề đã cấp chứng chỉ nghề cho 60 thành viên, tuy nhiên, các học viên không được tổ chức thành các đơn vị sản xuất hoặc liên kết. Trong 6 tháng đầu năm 2009, dự án đã phối hợp với Ban quản lý xây dựng tổ sản xuất thổ cẩm, hướng dẫn xây dựng qui chế hoạt động cũng như ra đề nghị UBND xã ra quyết định thành lập tổ hợp tác theo Nghị định 151CP. Đến nay tổ có 50 thành viên tham gia, trong đó ở thôn Vượng có 20 và Chiềng có 30 thành viên đăng ký tham gia hoạt động này. Trong tổng số thành viên tham gia trên có 30 thành viên thuộc các hộ nghèo được hưởng chính sách.

Hiện nay các tổ vẫn đang tranh thủ thời gian nhàn dỗi dệt vải thổ cẩm theo các mẫu cũ. Các tổ còn gặp khó khăn trong việc thiết kế mẫu mã mới, cắt may trang phục, đóng khung dệt khổ 1,2m. Để hỗ trợ cho tổ thổ cẩm phát triển thêm về nghề nghiệp, dự án đã tổ chức cho đại diện nhóm đi tham dự Hội chợ các mặt hàng thủ công Mỹ nghệ các dân tộc trên toàn quốc tại Vạn Bảo (Hà Nội) và thăm quan trao đổi học hỏi về kinh doanh dịch vụ tại khu sinh thái Thanh Thủy. Tổng số thành viên được hỗ trợ thăm quan là 7 người, trong đó thôn Vượng có 3 và thôn Chiềng có 4 người tham dự. Các thành viên được hỗ trợ 100% về chi phí khi đi thăm quan.

Đội văn nghệ dân gian

Đội đã được Dự án đã thúc đẩy việc hình thành và phát triển ở 2 thôn Chiềng và Vượng. Số thành viên tham gia chính thức của cả hai Đội là 30 người, trong đó nữ có 20 chị đều là người Mường ở các lứa tuổi từ 18 đến 45. Đội đã có quy chế hoạt động và sinh hoạt tổ hàng tháng vào các buổi tối lồng ghép với luyện tập các tiết mục văn hoá văn nghệ truyền thống. Tuy nhiên tổ chưa luyện tập và khôi phục được các điệu hát ví, hát đối truyền thống của dân tộc mình. Các trang phục biểu diễn còn mang tính chất giới thiệu chất liệu thổ cẩm chứ không phải trang phục cổ đại của Mường tằn.

Để hình thành tổ văn nghệ trở thành sản phẩm dịch vụ vừa khôi phục giá trị văn hoá dân tộc vừa mang giá trị kinh tế, dự án đã tổ chức cho đội tham gia giao lưu với đoàn thăm quan huyện Chợ Mới - Bắc Kạn tại huyện Thanh Sơn và thăm quan khu sinh thái Thanh Thuỷ. Ngoài ra đội văn nghệ còn tham gia Đại hội văn hóa dân tộc của huyện và các ngày lễ tết tại địa phương.

Nhóm chăn nuôi gia súc bản địa

Nhóm hiện có 15 thành viên tham gia trong 2 thôn. Mục tiêu của nhóm là khôi phục và phát triển nguồn giống vật nuôi bản địa (lợn mán, và gà nhiều cựa) phát triển thành hàng hoá cung cấp cho thị trường, đặc biệt để phục vụ du khách về sau này. Trong thành viên có 6 hộ nghèo, tất cả đều là người Mường. Nhóm đã được dự án hỗ trợ về hình thành và duy trì tổ chức; nhóm có quy chế hoạt động, có quyết định thành lập của UBND xã dựa trên nghị định 151CP. Các thành viên được tập huấn kỹ thuật chăn nuôi và phát các tài liệu kỹ thuật khi tham gia tập huấn. Theo kế hoạch dự án hiện tại chưa có thể cung cấp sản phẩm phục vụ cho du khách tới thăm, mô hình này đang ở bước khôi phục nhân rộng số lượng vật nuôi.

Dịch vụ tín dụng nhỏ được hình thành ở cấp xã có số 12 thôn tham gia trên tổng số 24 thôn thuộc xã Xuân Đài, Kim Thượng và có trên 300 thành viên tham gia quỹ đóng tiền tiết kiệm định mức, trong đó người nghèo có trên 100 thành viên. Hiện tại tổng số vốn hoạt động của hai quỹ tín dụng là 48 triệu, trong đó thành viên tự đóng góp là 34 triệu, RDSC hỗ trợ là 15 triệu, giải quyết cho 57 thành viên nghèo vay vốn với món vay từ 500 nghìn đến 1 triệu đồng trong thời hạn 12 tháng, lãi suất cho vay ra là 1,5%/tháng và gửi vào bằng 0,7%/tháng. Quỹ này hoạt động theo quy chế do thành viên tự xây dựng và thống nhất với sự hộ trợ của dự án về cách truyền thông và thành lập tổ chức, duy trì tổ chức, tập huấn và hướng dẫn kèm cặp cho ban quản lý về cách ghi chép sổ sách dựa theo luật tài chính Việt Nam.

Tổ thú y cộng đồng do RDSC hỗ trợ thành lập tạo việc làm cho cho 25 thành viên trên 2 xã. Tại xã Xuân Đài tổ thú y có 14 người có 2 nữ có 2 thành viên là người Dao; tại xã Kim Thượng tổ có 11 người, có 2 nữ và 4 thành viên là người Dao. Các thú y viên cộng đồng được Dự án đào tạo tại chỗ về kỹ thuật thú y cơ bản trong một khóa 14 ngày, các học viên được tài trợ 100% về tài liệu và học phí cũng như chế độ ăn nghỉ trong toàn khóa. Các thú y viên tham gia đào tạo được lựa chọn từ cấp thôn và được phê duyệt của cấp xã, và đã dự thi về kiến thức chăn nuôi thú y. Số thú y viên sau đào tạo đã được UBND xã bổ xung vào đội ngũ khuyến nông viên thôn bản phụ trách chăn nuôi thú y.

Tổ thú y cộng đồng do RDSC hỗ trợ thành lập đã giúp được cho địa phương làm tốt công tác phòng chống dịch cúm gia cầm, tiêm vắc xin cho lợn, trâu bò. Tỷ lệ tiêm phòng gia súc gia cầm giờ đạt trên 70%, gấp hai lần so với các năm trước. Lãnh đạo 2 xã cho biết: “Những năm trước, chúng tôi phải tổ chức tiêm phòng thường mất 7 ngày, thậm chí có đợt kéo dài tới 14 ngày do không có thú y. Nhờ đội ngũ thú y do dự án RDSC đào tạo, cuối năm 2008 và đầu năm 2009 chúng tôi tổ chức tiêm phòng rất nhanh, thậm chí nhóm thú y còn đi tiêm thuê cho xã Xuân Sơn”.

3.3.2. Hoạt động nâng cao năng lực tại xã Xuân Đài – Kim Thượng

Trong giai đoạn dự án, đã tổ chức được 04 cuộc tập huấn, tọa đàm và đánh giá nhằm mục đích nâng cao năng lực cho nhóm thú y viên và hoạt động du lịch cộng đồng. Tất cả có 120 lượt người tham gia các hoạt động tập huấn, tham qua, hội thảo của dự án, trong đó tỷ lệ nữ đạt 38% (xem Bảng 4). Ví dụ, dự án đã kết hợp tổ chức một cuộc tọa đàm kỹ thuật lồng ghép các cuộc sinh hoạt thường kỳ của thôn về các nội dung phòng chống rét cho gia súc vụ đông, phòng các loại bệnh như tụ huyết trùng, hen, suyến. Dự án cũng tổ chức tập huấn ủ chua thức ăn cho gia súc tại Xuân Đài, Kim Thượng. Một cuộc tập huấn kỹ thuật nuôi gà và lợn cho nhóm chăn nuôi con giống bản địa thuộc chương trình phát triển dịch vụ bổ trợ cho du lịch cộng đồng. Tháng 11 năm 2008, dự án đã tổ chức lớp tập huấn về vệ sinh môi trường cộng đồng và an tòan thực phẩm cho nhóm nhà lưu trú của hai thông Vượng và Chiềng với tổng số 22 thành viên tham gia. Chi tiết về các cuộc tập huấn đã thực hiện được nêu trong Bảng 3.

Dự án đã tổ chức đánh giá sản phẩm du lịch cộng đồng tại Thôn Chiềng và Thôn Vương vào tháng 01 năm 2009 nhằm mục đích xem xét mức độ hoàn thiện việc chuẩn bị cung cấp các dịch vụ du lịch của các tổ chức cộng đồng và kiểm tra năng lực tổ chức của Ban Quản lý du lịch. Cuộc đánh giá mang tính tập dượt này có sự tham gia của các cán bộ huyện, các đối tác tại các xã thuộc 3 huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Thanh Thủy. Cuộc đánh giá đã chỉ ra nhu cầu tiếp tục hoàn thiện các sản phẩm du lịch về nhà lưu trú, về tổ chức đón tiếp, và hướng dẫn khách, chương trình văn nghệ dân gian, và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ.

Bảng 4. Kết quả các cuộc tập huấn ở Xuân Đài và Kim Thượng

Tên tập huấn

Ngày thực hiện

Nơi thực hiện

Số tham gia

Nữ

Bên thực hiện

Kỹ năng ghi chép và quản lý sổ sách tín dụng

Tháng 11, 12/2008 và tháng4 năm 2009

Nhà văn hoá thôn Vượng và Chiềng

24

24

RDSC, Mạng lưới tín dụng

Kỹ thuật chăn nuôi và phòng bệnh cho gia súc gia cầm

Tháng 12 năm 2008

Nhà văn hoá thôn Chiềng, Kim Thượng

25

7

Mạng lưới khuyến nông

Kỹ thuật bảo quản, chế biến thức ăn cho đại gia súc

Tháng 12/2008

Thôn Chiềng- Kim Thượng, Mu – Xuân Đài

30

5

Mạng lưới Khuyến nông

Vệ sinh môi trường vệ sinh cá nhân và an toàn thực phẩm

11/2008

Hội trường UBND xã Xuân Đài

25

4

Phòng y tế Tân Sơn

Thăm quan doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ nhà lưu trú

3/2009

Thôn Chiềng và Vượng

16

6

RDSC

Tổng

120

46



[1] Ba xã dự án của giai đoạn I ở huyện Tân Sơn là Thu Ngạc, Thạch Kiệt, và Thu Cúc.

Số lượt đọc:  95  -  Cập nhật lần cuối:  22/06/2009 12:06:39 AM
Bài mới:  
Bài đã đăng:
Các bài được đọc nhiều nhất
23/11/2009 12:49' PM
Tham quan trại nuôi gà và nuôi giun tại xã Xuân Lũng
14/09/2009 03:52' PM
Kỹ thuật chăn nuôi thỏ quy mô hộ gia đình tại Phú Thọ
26/11/2006 01:19' AM
Tài liệu về Chương trình 135 Giai đoạn 2 (2006-2010)
08/04/2009 05:33' AM
Vai trò giới trong phân công lao động gia đình ở Việt Nam qua những biến động xã hội
16/07/2006 09:01' AM
Kỹ thuật Trồng và Chăm sóc Tre Bát độ để lấy Măng
24/06/2006 08:54' AM
Viết Thu hoạch sau Cuộc Tham quan Học tập
14/09/2009 10:06' PM
Kỹ thuật trồng nấm mèo
15/06/2010 08:40' PM
Mẹo sử dụng và cài đặt font tiếng Việt cho SPSS 15 và 16
11/03/2009 05:51' AM
Chia sẻ kỹ thuật chăm sóc heo nái khi sanh sản và hậu sanh sản
21/02/2008 09:24' AM
Hướng dẫn lập và sử dụng trang web qua My.opera.com
Đăng ký nhận tin thư
Họ và tên:
Email:
Tổng số lượt truy cập: 5.776.298
Số người trực tuyến: 32

©2004 Bản quyền Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn - RDSC
Số 2 nhà D, 45/39 Hào Nam, Đống Đa, Hà Nội,Việt Nam
Email: rdsc@netnam.vn - Phone: +84-4-3-512 1175 - Fax: +84-4-3-512 1175
Website được xây dựng trên Công nghệ ViePortal của Hanoi Software JSC