|
Tại huyện Thanh Sơn, dự án thực hiện ở hai địa bàn là xã Tân Lập và Yên Lương, đều là dân tộc miền núi thuộc chương trình 135 Giai đoạn II. Trong giai đoạn này, dự án hoàn thiện các hoạt động ở mỗi xã hai thôn dân tộc Mường và đang mở rộng thực hiện ở các thôn mới tại các cộng đồng dân tộc Dao. Cùng với Thu Cúc, tại hai xã này, dự án thực hiện mô hình giảm nghèo bằng khuyến nông toàn diện có trọng điểm cho những người nghèo nhất được lựa chọn. Khuyến nông toàn diện bao gồm các hợp phần hỗ trợ về phân bón, lương thực trong thời gian giáp hạt theo các phương thức truyền thống của cộng đồng ở dạng quỹ quay vòng, hỗ trợ tri thức về sản xuất trồng trọt lương thực, chăn nuôi tiểu gia súc, hỗ trợ hộ nghèo tiếp cận các quyền lợi của mình về chính sách của chính phủ. Hạt nhân của chương trình khuyến nông toàn diện là các khuyến nông viên (chọn từ đội ngũ khuyến nông của xã hoặc các hộ nông dân giỏi) và một trạm thực nghiệm tổ chức tại một thôn để làm điểm thực hành chuyển giao kỹ năng qua tập huấn, trao đổi, tọa đàm.
Dự án thực hiện mục tiêu cải thiện cơ cấu thu nhập của người nghèo thông qua việc xây dựng và duy trì các trạm thực nghiệm, các quỹ hỗ trợ phân bón, và quỹ quay vòng lương thực.
2.1.1. Trạm thực nghiệm
Hai trạm thực nghiệm ở xã Tân Lập và Yên Lương hoàn tất việc xây dựng cơ bản tháng 01 năm 2009. Sau thời điểm này, hai trạm đã tiếp nhận gia súc giống (mua và nuôi trước đây ở Trạm Thu Cúc). Các cây thức ăn cho gia súc như khoai lang, đậu, ngô, chuối, cỏ ghine ) đã được trồng. Mỗi trạm có một kỹ sư nông nghiệp phụ trách (kiêm nghiệm làm xúc tác viên phát triển cộng đồng) và một công nhân được tuyển dụng với sự tham vấn và góp ý của cộng đồng.
Các vật nuôi được thử nghiệm là thỏ và lợn Móng Cái. Đàn lợn và thỏ mua từ tháng 11 năm 2008 và nuôi tại Thu Cúc trước khi được chuyển về trong hai trạm này.
Trạm Tân Lập: Diện tích của trạm là 2354m2. Đây là khu đất 1 vụ thuộc khu đồng cạn thôn Mít 1 xã Tân Lập thuộc nhóm đất xã cho dân đấu thầu và nay cho Dự án thuê lại. Hiện nay, trạm đã trồng các loại cây thức ăn cho đàn gia súc, cụ thể diện tích là 350m2 , khoai lang, 100m2 cỏ ghine, 100m2 cỏ voi, ngô -- 2 sào. Các loại cây trồng xung quanh hàng rào cũng có thể dùng làm thức ăn gia súc như chuối (40 cây), cúc tần, râm bụt, và cỏ voi xung quanh hàng rào. Vật nuôi thỏ 16 con, lợn 4 con trong đó có 3 con nái đã phối giống và một con lợn đực. Đàn thỏ giống ở trạm Tân Lập từ 70 con sau một đợt dịch bị chết còn lại 16 con.
Trạm Yên Lương: Diện tích 7.2 sào, có nguồn nước giếng, giáp với đồng ruộng thuận lợi cho chăn nuôi và trồng trọt. Hiện trạm đã trồng các loại cây thức ăn cho gia súc, cụ thể diện tích cỏ voi 300m2, khoai lang 360m2, ngô 1.5 sào. Trạm còn tận dụng bờ rào trồng các loại cây thức ăn gia súc khác như chuối (40 cây), cúc tần, râm bụt. Về vật nuôi, hiện đàn thỏ có 45 con, 3 lợn nái móng cái đã phối giống trong tháng 3 dự tính sẽ có lợn con cung cấp cho cộng đồng vào giữa tháng 9 năm 2009. Tại trạm Yên Lương, có một con lợn nái giống chết vào lúc đã trên 45kg do bệnh xuyễn.
Hiện tại, số lợn giống ở các trạm đều chưa đủ lượng để có thể đảm bảo khả năng tự duy trì về mặt kinh tế. Dự án đã có kế hoạch mở rộng diện tích khu vực chăn nuôi, tăng số ô nuôi lợn nái và nuôi thêm đàn lợn giống để cải thiện hiệu quả kinh tế của chăn nuôi lợn giống. Trong tháng 5/2009, một nhiệm vụ khác mà cả ba Trạm hoàn thành là hoàn thiện các khu vực trồng cây thức ăn gia súc để làm nguồn giống cho địa phương. Các cây được lựa chọn là cỏ AV và cây chè đại đều là các giống cây có năng suất cao, giàu lượng đạm thực vật, dễ thích nghi với nhiều loại đất có thể tận dụng,và phù hợp với nhiều loại gia súc.
Tuy còn ở giai đoạn phát triển ban đầu, cả hai trạm đều có thể là điểm để thực hiện các cuộc tập huấn hoặc tọa đàm kỹ thuật quy mô thôn. Cả hai trạm đều có thể xây dựng các chuồng trại mẫu, có phương pháp chăm sóc gia súc, sử lý phân rác, và cây thức ăn gia súc làm mẫu cho cộng đồng xung quanh. Trong tương lai, các trạm được tiếp tục xây dựng để trở thành điểm cung cấp con giống, cung cấp giống cây thức ăn gia súc, và điểm học tập ở cộng đồng về các kỹ thuật nông nghiệp phù họp. Điều thuận lợi cơ bản ở Yên Lương, là khu vực đất làm trạm có thể được UBND xã cho thuê lâu dài và có thể mở rộng quy mô để trạm trên một khu đất có khả năng canh tác tốt có thể phát triển và hoàn thiện sản xuất.
2.1.2. Tăng cường các kỹ năng chăn nuôi trồng trọt
Việc nâng cao kỹ năng chăn nuôi trồng trọt cho các hộ nông dân nghèo có tác dụng trực tiếp tới năng suất sản lượng của hộ gia đình, qua đó cải thiện mức thu nhập, và đặc biệt là an toàn lương thực cho hộ nghèo. Hơn nữa, các hoạt động này có tác dụng hỗ trợ các hộ nghèo sử dụng tốt hơn đồng vốn vay của ngân hàng nông nghiệp hoặc ngân hàng chính sách. Các hoạt động này cũng có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng các hỗ trợ của nhà nước về giống lúa hay ngô được trợ cước, trợ giá.
Trong giao đoạn báo cáo, dự án đã tổ chức được khoảng 10 cuộc tập huấn chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi trồng trọt, hai cuộc truyền thông chính sách, 2 cuộc toạ đàm về phòng bệnh cho vật nuôi. Các cuộc tọa đàm và tập huấn được tổ chức với gần 300 lượt người nghèo tham gia ngay tại thôn bản đã đem lại hiệu quả cao trong việc khuyến khích người nông dân, nhất là phụ nữ và người nghèo áp dụng các kỹ thuật chăn nuôi trồng trọt. Số lượt phụ nữ tham gia tập huấn chiếm tới 88% tổng số lượt người dự (xem Bảng 2).
Bảng 2. Các cuộc tập huấn đã thực hiện tại Yên lương
|
Tên tập huấn |
Nơi thực hiện |
Số người dự |
Nữ |
Bên thực hiện |
|
Phòng bệnh cho vật |
Khu 1 |
32 |
31 |
Khuyến nông xã |
|
nuôi |
Khu 7 |
30 |
25 |
|
|
Chống rét cho trâu bò |
Bồ xồ |
36 |
32 |
Thú y huyện |
|
Ủ thức ăn cho heo và |
Bồ xồ |
16 |
15 |
Cán bộ dự án |
|
trâu bò bằng sắn |
Khu 7 |
8 |
5 |
|
|
Phòng trừ sâu bệnh |
Thôn 1 |
23 |
22 |
|
|
cho lúa (sáu cuộc, làm |
Thôn 7 |
56 |
52 |
|
|
trong hai vụ) |
Quất |
60 |
55 |
|
|
Tọa đàm kỹ thuật nuôi heo nái |
Thôn 7 |
37 |
26 |
Cán bộ dự án, khuyến nông xã |
|
Tổng |
|
298 |
263 |
|
Xã Tân Lập
Trong sáu tháng dự án đã tổ chức tập huấn cho bà con về cả kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi. Về trồng trọt, các lớp tập huấn đã tổ chức cho cộng đồng thôn Mít 1, Mít 2 về kỹ thuật trồng ngô đông. Các lớp tập huấn về phòng trừ và phát hiện sâu bệnh cho lúa đã tổ chức cho cộng đồng tại thôn Chủng và Hạ Thành,
Về chăn nuôi, dự án đã tập huấn cho cộng đồng thôn Hạ Thành phương pháp ủ chua sắn làm thức ăn cho lợn, một lớp tập huấn về phương pháp phòng chống rét, vệ sinh chuồng trại chống bệnh cho gia súc, gia cầm. Dự án cũng tổ chức một cuộc tọa đàm về chính sách tiêm phòng cho vật nuôi.
Ngoài ra, công nhân của trạm thực nghiệm cũng được hướng dẫn và kèm cặp về kỹ thuật phát hiện và phòng trị bệnh cho thỏ, lợn, về kỹ năng cho ăn, thức ăn và phối hợp thuốc cho thỏ và lợn, theo dõi các diễn biến của đàn vật nuôi thông qua phân và nước giải để phát hiện bệnh kịp thời.
Xã Yên Lương
Hai thôn của xã Yên lương được tập trung hỗ trợ từ tháng 10 năm 2008 là Thôn 1 với 20 hộ nghèo lựa chọn, và Thôn 7 có 20 hộ nghèo lựa chọn. Cả hai nhóm hộ nghèo trong hai thôn đều thuộc nhóm dân tộc Mường.
Với các hộ nghèo được lựa chọn, Dự án tổ chức năm cuộc tập huấn theo các đề tài kỹ thuật, với trọng tâm về chăn nuôi thú y. Một buổi tọa đàm chính sách phòng bệnh cho vật nuôi. Trong sáu tháng đã tổ chức 02 cuộc truyền thông về các chính sách 135, 134, chính sách nông nghiệp, của nhà nước đối với người nghèo của nhà nước. Ngoài ra còn đào tạo kỹ thuật cho công nhân trại về kỹ năng kiểm tra sức khoẻ vật nuôi, kỹ năng bắt, tiêm thỏ. Riêng kỹ năng tiêm lợn, cán bộ thú y đã hướng dẫn công nhân trại làm thành thạo.
Việc tăng cường sự tham gia của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội ở các thôn dự án thể hiện ở việc được biết về các quyền lợi của mình về chính sách và cách hưởng thụ lợi ích do các chính sách đảm bảo. Dự án cũng giúp người nghèo tiếp cận và sử dụng có hiệu quả các lợi ích mà chính sách đảm bảo thông qua các hoạt động khuyến nông và tín dụng vi mô, các quỹ phân bón và Quỹ quay vòng lương thực.
2.2.1. Tăng cường hiểu biết về quyền lợi chính sách
Nhìn nhận cấp độ tham gia đầu tiên là “được biết”, dự án đã thúc đẩy cộng đồng biết về các chính sách phát triển nông thôn, nông nghiệp đang được thực hiện trong xã, nhất là chính sách giảm nghèo. Việc này được thực hiện thông qua sự hợp tác với các tổ khuyến nông xã và các đoàn thể.
Cuộc truyền thông ngày 1 tháng 10 năm 2008, RDSC đã truyền thông về chính sách giảm nghèo, chương trình 135 và chương trình sức khoẻ và y tế. Hoạt động truyền thông kết hợp với văn nghệ có hàng trăm người ở nhiều thôn tham gia.
Ngày rằm trung thu của năm 2008, RDSC cũng đã truyền thông về quyền trẻ em ở thôn 1 và thôn 7 xã Yên Lương. Các hoạt động đã thu hút hàng trăm phụ nữ tìm hiểu về quyền trẻ em và quyền về chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ. Các hoạt động tập huấn và truyền thông ở Yên Lương được nêu trong Bảng 3.
2.2.2. Hỗ trợ hộ nghèo sử dụng có hiệu quả các hỗ trợ chính sách
Được biết các hộ nghèo được chính phủ hỗ trợ trợ cước trợ giá về giống lúa và phân bón của dự án tổ chức Quỹ hỗ trợ lương thực và phân bón để giúp các hộ nghèo tiếp cận và sử dụng có hiệu quả hơn với hỗ trợ chính sách. Cả hai quỹ là một hình thức tự giúp được thúc đẩy với các nhóm người nghèo nhằm giúp các hộ nghèo đối phó có hiệu quả với tình trạng thiếu lương thực tạm thời khi giáp vụ, và tình trạng thiếu tiền mặt khi cần mua phân bón vào thời điểm bón cho lúa.
Giả định của dự án là khi các hộ nghèo có đủ lương thực hơn, họ sẽ sử dụng lao động của mình một cách hiệu quả nhất, thay vì lo lắng tìm cách giải quyết lương thực bằng bất kỳ giá nào. Với quỹ phân bón, dự án giả định là các hộ nghèo có phân bón kịp thời sẽ tránh được các khoản vay lãi cao, phân bón dùng đúng lúc sẽ có hiệu quả cao, và góp phần tăng năng suất/sản lượng lương thực và qua đó giúp cải thiện an toàn lương thực.
Các quỹ hình thành trên cơ sở một lại hình tổ chức của cộng đồng, giống như chơi “hụi” hay “họ” thóc giữa người nông dân với nhau. Để giúp người nghèo có thể lập ra các quỹ này, khi mà nguồn lực của người nghèo không nhiều, dự án đối ứng một khoản có giá trị bằng khoản đóng góp của cộng đồng. Do phân bón và lương thực chủ yếu do phụ nữ quản lý, các quỹ này chủ yếu được phụ nữ làm chủ.
Xã Tân Lập
Quỹ quay vòng lương thực được duy trì và thực hiện tốt tại hai thôn Mít1, Mít 2 giúp cho các hộ nghèo có được lương thực phục vụ trong các tháng thiếu ăn và một phần đầu tư vào chăn nuôi đồng thời nhằm giúp cho hộ nghèo có khả năng tự trang trải để vươn lên theo kịp với các hộ trung bình và hộ khá trong thôn. Quỹ vật tư nông nghiệp tại thôn Mít 1 hiện mới chỉ thu được 1/2 trong tổng số vốn của quỹ, hiện tại ban Quản lý quỹ vẫn tiếp tục thu hồi. Số tiền còn nợ là 5.197.150 đồng tại thôn. Một bài học quản lý rút ra ở đây, là Quỹ tín dụng phụ nữ nên là đối tác để thực hiện Quỹ vật tư nông nghiệp.
|
Các quỹ quay vòng ở Thôn Mít 1 và Mít 2 xã Tân Lập
Về quỹ quay vòng lương thực, ở thôn Mít 1 đã cấp 6,1 triệu cho nhóm 20 hộ nghèo và ở thôn Mít 2 đã cấp 6,3 triệu cũng cho nhóm 20 hộ nghèo. Mỗi thôn, giá trị quy đổ là 1 tấn lúa. Quỹ quay vòng lương thực ở cả hai thôn đều thu hồi và quay vòng tốt. Với tài sản của Quỹ, quyền sử dụng là cuả người tham gia, và phần đóng góp của dự án là theo tỷ lệ 1:1 so với đóng góp của cộng đồng. Khi nhóm giải thể, giá trị phần thóc do dự án đóng góp sẽ chuyển cho QTD Phụ nữ để bổ xung vốn cho vay trong cộng đồng.
Về Quỹ vật tư phân bón, hiện tại Quỹ do các trưởng thôn Mít 1 và Mít 2 thực hiện. Dự án đã cấp 25 triệu đ để mua phân bón cho cả hai thôn. Với thôn Mít 1, số vốn giao cho cộng đồng là 12 triệu đ, và sau một vụ lãnh đạo thôn mới thu được 6 triệu. Dự án đề nghị trưởng thôn trả lại 6 triệu đ để ủy thác cho Quỹ tín dụng QTD phụ nữ nhận vốn, cho vay các thành viên cho Nhóm nghèo để mua phân bón. Các hộ tham gia vay vốn cô gắng phấn đấu để đạt năng suất lúa bằng hộ khá.
Nguồn: Biên bản cuộc họp giữa Dự án và UBND xã ngày tháng 3 năm 2009. |
Tại hai thôn được chọn để mở rộng là Chủng (nhóm dân tộc Mường) và thôn Hạ Thành (thôn người Dao), dự án triển khai được 1 đợt tập huấn về chăn nuôi, 1 cuộc tập huấn về trồng trọt tại hai thôn. Dự án đang có kế hoạch khảo sát tính khả thi của việc thực hiện Quý công trình vệ sinh tại thôn. Nếu khả thi, mô hình này được thực hiện với sự hợp tác Quỹ tín dụng Phụ nữ trong việc quản lý vốn.
|
Khả năng hợp tác thực hiện các hoạt động tại thôn Chủng xã Tân Tập:
1. xây dựng phường xây nhà vệ sinh và chuồng trâu bò để sạch sẽ thôn làng và có thêm phân bón.
2. Tổ chức dịch vụ tiêm chủng cho lợn, tiến tới phát triển dịch vụ bảo hiểm cho lợn. Trước mắt dự án nên hỗ trợ tổ thú y khuyến mãi 50% phí tiêm chủng;
3. Xây dựng và duy trì Câu lạc bộ nuôi lợn nái. Hoạt động của câu lạc bộ có thể là tập huấn nâng cao kỹ thuật cho các thành viên, tọa đàm chia sẻ kinh nghiệm nuôi lợn, hỗ trợ chi phí tiền đi lại cho các hộ nuôi lợn giống để cải tạo đàn lợn giống của thôn.
Nguồn: Biên bản thảo luận giữa lãnh đạo thôn và RDSC, tháng 3 năm 2009 |
Xã Yên Lương
Đến tháng 3 năm 2009, tại xã Yên Lương, với sự tham vấn của UBND xã, Dự án đã chọn hai thôn mới để mở rộng Quất và Bồ Xồ. Thôn Quất là thôn có hai dân tộc thiểu số cư trú là người Mường và Thổ, còn thôn Bồ Xồ là thôn dân tộc Dao. Tại thôn Quất, Dự án tập trung hỗ trợ 21 hộ nghèo, và tại Bồ Xồ, - 10 hộ nghèo.
Tuy tham gia dự án từ đầu giai đoạn II, cộng đồng hai Thôn 1 và Thôn 7 không thực hiện quỹ quay vòng lương thực với sự hỗ trợ của dự án. HPN tại các thôn này đã có nhiều năm duy trì các quỹ lương thực với nguồn thóc huy động từ các hội viên và hoạt động rất vững vàng.
Tại Yên Lương, Quỹ quay vòng lương thực được thực hiện ở Thôn Quất trong giai đoạn mở rộng bắt đầu từ tháng 3 năm 2009. Tham gia Quỹ có 21 phụ nữ đại diện cho các hộ nghèo. Trong tháng 05 /09, Dự án đã cấp kinh phí cho nhóm phụ nữ dân tộc Thổ và Mường tham gia Quỹ quay vòng lương thực tại thôn Quất để mua lương thực triển khai hoạt động của Quỹ. Với cả ba nhóm Quỹ, dự án đã thu hút trên 100 người nghèo tham gia hoạt động huy động tiết kiệm kiểu quay vòng của cộng đồng.
Bảng 3. Các quỹ cộng đồng được xây dựng tại Yên Lương trong Giai đoạn II
|
Yên Lương |
Quỹ phân bón |
Quỹ công trình vệ sinh |
Quỹ Quay vòng lương thực |
Ghi chú |
|
Thôn 1 |
0 |
Quỹ CTVS đã có từ năm 2007 |
Không làm do đã có Quỹ của cộng đồng |
Trị giá Qũy CTVS là 5 triệu |
|
Thôn 7 |
42 |
Quỹ CTVS đã có từ năm 2007 |
Không làm do đã có Quỹ của cộng đồng |
Trị giá Qũy CTVS là 5 triệu |
|
Quất |
38 |
Quỹ CTVS đã có từ năm 2007 |
21 |
Trị giá Qũy CTVS 5 triệu |
|
Bồ xồ |
0 |
0 |
Không làm |
Mới thực hiện QTD được 29 thành viên |
Theo thỏa thuận với lãnh đạo thôn Bồ Xồ, dự án cùng cộng đồng phục hồi sản xuất lương thực với cây lúa với nguồn gen giống địa phương để trồng trên nương của người Dao, phát triển nghề làm thổ cẩm với kỹ thuật nhuộm chàm, và xây dựng chương trình văn nghệ dân tộc Dao. Tại thôn Quất, cộng đồng đề xuất làm trạm thực nghiệm để chuyển giao kỹ thuật và cung cấp con giống cho cộng đồng, nhưng điều này nằm ngoài kế hoạch của dự án.
Với cả hai thôn mới mở rộng là Quất và Bồ Xồ, dự án tiếp tục hỗ trợ các hộ nghèo, phụ nữ dân tộc về kiến thức kỹ năng chăn nuôi trồng trọt. Dự án cũng tiếp tục triển khai Quỹ công trình vệ sinh ở cả hai cộng đồng.
Ở cấp cơ sở, để cải thiện quan điểm thiên vị cho các hộ nghèo, dân tộc và bình đẳng giới, dự án tổ chức tập huấn cho cán bộ khuyến nông xã về các phương pháp có sự tham gia thông qua hoạt động của mạng lưới khuyến nông. Dự án đã tổ chức tập huấn về phương pháp thúc đẩy, phương pháp truyền thông để thay đổi hành vi cho các cán bộ các tổ chức đối tác. Kỹ năng vi tính cho các cán bộ xã, thành viên mạng lưới khuyến nông, và tín dụng cũng được tập huấn. Một khóa tập huấn vi tính cơ bản cũng được tập huấn cho cán bộ UBND xã Tân lập ngay tại văn phòng ủy ban.
Trong ba tháng đầu năm 2009, để mở rộng hoạt động sang các thôn mới, dự án đã tổ chức đánh giá nghèo theo phương pháp định tính tại bốn thôn dân tộc thiểu số. Với sự tham vấn của chính quyền xã, tại xã Yên Lương các thôn được chọn mở rộng là Thôn Quất và Bồ Xồ, tại xã Tân Lập đó là thôn Chủng và Hạ Thành. Có hai thôn người Dao trong bốn thôn này. Nhóm cán bộ dự án đã khảo sát tìm hiểu nguồn lực và các nhu cầu để thực hiện các hoạt động phù hợp. Nội dung hoạt động của dự án tại các thôn cũng đã được thảo luận với chính quyền thôn và báo cáo với chính quyền xã.
Tiếp cận của dự án được giới thiệu cho các cán bộ của các cơ quan nông nghiệp, và các tổ chức đối tác cấp xã. Một hoạt động theo hướng này là mời các cán bộ các cơ quan nông nghiệp hay khuyến nông tham gia các đoàn tham quan của các tỉnh bạn, ví dụ đoàn tham quan của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn trong tháng 4 năm 2009. Các cán bộ khuyến nông xã và cán bộ ngành nông nghiệp huyện cũng tham gia đánh giá hoạt động của dự án cuối kỳ vào tháng 5 /2009, qua đó có thể hiểu rõ phương thức hỗ trợ người nghèo của dự án.
Từ tháng 4/2009, Tổ Khuyến nông ở cả hai xã đã cùng dự án ký kết hợp đồng khuyến nông cho các thôn dự án. Tham gia thực hiện các cuộc tập huấn và thao diễn là các khuyến nông viên cơ sở trong tổ khuyến nông xã và thôn. Các nông dân giỏi cũng được các tổ khuyến nông phát hiện và giới thiệu tham gia nhóm khuyến nông để chuyển giao các kỹ thuật phù hợp và được thử thách với nông dân nghèo. Cán bộ kỹ thuật của Dự án sẽ tham gia hỗ trợ các khuyến nông viên chuẩn bị giáo trình, tài liệu và phương pháp tập huấn. Từ tháng 5 /09 trở đi, các cuộc tập huấn mẫu sẽ thực hiện tại các trạm thực nghiệm với sự tham gia của các hộ nghèo trong thôn.
Số lượt đọc:
33
-
Cập nhật lần cuối:
21/06/2009 11:57:24 PM Bài mới:
 Hoạt động tổ chức cộng đồng của dự án CASI 3 tại Yên Lương03/03/2012 12:03' PM Trong tháng 2, Dự án CASI 3 Yên
Lương có những hoạt động về tổ chức cộng đồng ở cấp xã và thôn. Dự án đã tổ chức Ban Quản lý và cộng đồng đã hình thành hai CLB và lãnh đạo của CLB tại thôn Quất (phụ nữ Thổ và Mường) và Bồ Xồ (phụ nữ Dao). Các CLB đã đưa ra kế hoạch hoạt động chi tiết của dự án cho tháng 3/2012. Đàn gà ở Trạm thực nghiệm ở Yên Lương tháng 6 năm 2010 09/07/2010 06:17' PM Tính đến cuối tháng, cả trạm có
1590 con gà ta và gà đặc sản trong hai đàn. Đàn gà hai tháng tuổi bên
chuồng
lợn cũ (khu B) có 800 con, đàn gà một tháng tuổi bên chuồng thỏ cũ (Khu
A) có 490
con, và đàn gà đặc sản có khoảng 30 con cả lớn lẫn bé gồm gà cẩm và gà
chọi. Bài đã đăng: Báo cáo Tiến độ hai năm thực hiện dự án Tăng cường sự Tham gia của Nhân dân trong Phát triển Kinh tế Xã hội tại tỉnh Phú Thọ-Giai đoạn II. Phần 1 21/06/2009 11:48' PM Bài này là phần 1 của Báo cáo Tiến độ hai năm thực hiện dự án Tăng cường sự Tham gia của Nhân dân trong Phát triển Kinh tế Xã hội tại tỉnh Phú Thọ-Giai đoạn II.
Báo cáo này do Ban Quản lý Dự án thực hiện nhằm phản ánh tiến độ, kết quả của dự án trong giai đoạn từ tháng 10 năm 2008 đến tháng 05 năm 2009. Ban Quản lý dự án lập báo cáo này để làm rõ tình hình thực hiện dự án với các cơ quan quản lý cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã, và các đối tác ở cơ sở.
Báo cáo này đề cập tới chủ yếu tới các hoạt động và kết quả trong quá trình thực hiện những điều chỉnh quan trọng của Giai đoạn 2, những khó khăn thuận lợi và điểm mạnh và yếu của các hợp phần và hướng đi cho tới thời điểm kết thúc dự án. Bản báo cáo cũng đề xuất hướng mở rộng chương trình cho giai đoạn sau dự án. Các mục tiêu của dự án được đánh giá và trình bày trong một báo riêng trên cơ sở một cuộc khảo sát dự kiến thực hiện vào tháng 5 và 6 năm 2009 với sự tham gia của các đối tác địa phương. Báo cáo tiến độ thực hiện dự án Tăng cường sự tham gia của nhân dân trong phát triển kinh tế xã hội: Phần 5. Tổ chức và Quản lý Dự án 21/06/2009 12:22' AM Phần 5 và là phần cuối của loạt bài đề cấp tới công tác tổ chức và quản lý của dự án. Trong năm thứ hai của dự án, công tác quản lý dự án được chuyển mạnh từ Văn phòng Hà nội sang Văn Phòng Phú thọ. Không chỉ vậy, văn phòng làm việc còn được chuyển về gần hơn với các xã dự án. Đội ngũ cán bộ được bổ xung cân đối hơn về chuyên môn. Việc quản lý dự án, đặc biệt là các hoạt động báo cáo, thảo luận trong đổi thông tin tiến độ, đến tháng 5 năm 2009 trở đi đã ổn định và có nền nếp. Báo cáo tiến độ thực hiện dự án Tăng cường sự tham gia của nhân dân trong phát triển kinh tế xã hội: Phần 4. Hoạt động liên huyện 21/06/2009 12:16' AM Phần 4 của Báo cáo đề cập tới các hoạt động nhằm tăng cường các giá trị thiện vị cho người nghèo và bình đẳng giới cho hệ thống khuyến nông, dự án có các hoạt động liên huyện để thúc đẩy việc hình thành và phát triển hai mạng lưới dịch vụ cho nông dân, nhất là nông dân nghèo người dân tộc thiểu số, và phụ nữ là mạng lưới khuyến nông và mạng lưới tín dụng. Trong thời gian dự án, hai mạng lưới hình thành và hoạt động như những tổ chức cộng đồng có quy mô liên huyện. Về nguyên tắc, hai mạng lưới hoạt động độc lập với RDSC và được sự hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật của dự án. RDSC cũng có những hoạt động cấp quốc gia gắn với hoạt động của dự án. Báo cáo tiến độ thực hiện dự án Tăng cường sự tham gia của nhân dân trong phát triển kinh tế xã hội: Phần 3. huyện Tân Sơn 21/06/2009 12:06' AM Phần 3 của Báo cáo giới thiệu kết quả hoạt động của dự án tại Huyện Tân Sơn. Tại đây, dự án thực hiện các hoạt động hướng về ba mục tiêu của dự án (Xem Phần 1 Báo cáo) ở xã Thu Cúc trong hai thôn người Mường lựa chọn từ năm đầu là Thôn Chiềng 2 và Thôn Cón. Sang năm thứ hai, dự án bắt đầu mở rộng sang thôn Tân Lập là thôn người Dao, và đang tìm hiểu khả năng thực hiện các hoạt động mở rộng ở thôn Mỹ Á- thôn người H’Mông. Tại cộng đồng hai thôn của hai xã Xuân Đài và Kim Thượng, dự án thực hiện hoạt động thúc đẩy phát triển du lịch cộng đồng như một phương thức tạo thu nhập mới dựa trên thế mạnh về đặc trưng văn hóa dân tộc của bà con người Mường ở địa phương. Tuy nhiên những biến động trên thế giới về khủng hoảng tài chính trong năm 2009, những nạn dịch về cúm gia cầm, và cúm heo đã hạn chế nghiêm trọng dòng khách du lịch vào trong nước và ảnh hưởng xấu tới việc phát triển du lịch nói chung, và du lịch cộng đồng nói riêng. Sử dụng vốn và quản lý Quỹ tín dụng Phụ nữ tại hai xã Tân Lập và Yên Lương 02/06/2009 05:22' AM RDSC Phú Thọ. 02/06/09
Cuộc điều tra nhanh tình hình quản lý vốn của Quỹ tín dụng Tân Lập và Yên Lương và việc sử dụng vốn của các hộ gia đình vay từ Quỹ tín dụng phụ nữ do Dự án Tăng cường Sự tham gia của nhân dân trong phát triển kinh tế xã hội cho thấy đồng vốn nhỏ đã có tác động tích cực đến tạo quyền về kinh tế và cải thiện đời sống của phụ nữ nghèo. Cuộc sống của các hộ nghèo được cải thiện đáng kể qua việc mua sắm các đồ dùng gia đình để được sắm sửa góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống. Đồng vốn nhỏ của Quỹ đã khuyến khích các hộ nghèo tiếp cận và sử dụng nguồn vốn lớn hơn của Ngân hàng nông nghiệp, để có những khoản đầu tư lớn hơn cho hoạt động sản xuất quy mô lớn hơn.
Cuộc kiểm tra cũng ghi nhận hoạt động có hiệu quả của Ban quản lý Quỹ ở cấp xã, các nỗ lực mở rộng diện phụ vụ cho người phụ nữ nghèo. Cuộc điều tra cũng ghi nhận hiện tượng trả nợ chậm và nợ quá hạn, được tiềm ẩn ở dạng tiền vay do tổ trưởng cho tổ viên mượn để thanh toán. Cũng có hiện tượng đáo nợ, hay là một thành viên một lúc vay hay khoản, trong khi khoản nợ trước chưa thanh toán xong. Đoàn kiểm tra khuyến nghị Ban Quản lý kiểm tra thường xuyên sổ theo dõi vay trả của các tổ trưởng, kiểm tra món vay ở các thành viên để giảm bớt, tiến tới khắc phục các rủi ro tài chính.
Nhóm đánh giá cũng đề nghị Ban Quản lý Quỹ hướng dẫn cụ thể và nhắc nhở, kèm cặp các tổ trưởng trong việc duy trì số sách đúng chuẩn mực. Đặc biệt, Ban Quản lý cần khắc phục ngay tình trạng có tổ trưởng không có sổ theo dõi thành viên và vốn vay của các thành viên. Đây cũng nguy cơ về khả năng đồng vốn bị lạm dụng ở cộng đồng và cần được ngăn chặn trong thời gian sớm nhất. |