RDSCVN
Đang tải dữ liệu...

Giới thiệu RDSC    |    Tin tức sự kiện    |    Diễn đàn    |    IDMA    |    Video    |    Âm thanh    |    Gallery    |    Slide show

Trưng cầu ý kiến
Dành cho các anh/chị kế toán.
Trong thực tế, Anh/chị dùng phần mềm kế toán chuyên dụng chủ yếu để làm việc gì? Không chọn quá 3 phương án.
 
Hỗ trợ trực tuyến
Vùng Phú Thọ

Báo cáo Tiến độ hai năm thực hiện dự án Tăng cường sự Tham gia của Nhân dân trong Phát triển Kinh tế Xã hội tại tỉnh Phú Thọ-Giai đoạn II. Phần 1

Báo cáo tiến độ hai năm thực hiện dự án

Tăng cường sự Tham gia của Nhân dân trong Phát triển Kinh tế Xã hội tại tỉnh Phú Thọ-Giai đoạn II

1. Đặt vấn đề và kết luận chung

1.1. Nhập đề

Báo cáo này do Ban Quản lý Dự án Tăng cường sự Tham gia của Nhân dân trong Phát triển Kinh tế Xã hội tại tỉnh Phú Thọ-Giai đoạn II thực hiện nhằm phản ánh tiến độ, kết quả của dự án trong giai đoạn từ tháng 10 năm 2008 đến tháng 05 năm 2009. Ban Quản lý dự án lập báo cáo này để làm rõ tình hình thực hiện dự án với các cơ quan quản lý cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã, và các đối tác ở cơ sở.

Báo cáo này đề cập tới chủ yếu tới các hoạt động và kết quả trong quá trình thực hiện những điều chỉnh quan trọng của Giai đoạn 2, những khó khăn thuận lợi và điểm mạnh và yếu của các hợp phần và hướng đi cho tới thời điểm kết thúc dự án. Bản báo cáo cũng đề xuất hướng mở rộng chương trình cho giai đoạn sau dự án. Các mục tiêu của dự án được đánh giá và trình bày trong một báo riêng trên cơ sở một cuộc khảo sát dự kiến thực hiện vào tháng 5 và 6 năm 2009 với sự tham gia của các đối tác địa phương.

1.2. Lôgic của dự án

Đến 30 tháng 9 năm 2009, dự án Tăng cường sự Tham gia của Nhân dân trong Phát triển Kinh tế Xã hội tại tỉnh Phú Thọ-Giai đoạn II[1] sẽ kết thúc. Theo kế hoạch, dự án sẽ tổ chức tổng kết các hoạt động của và tổ chức đánh giá kết quả sau hai năm hoạt động. Trong hai năm qua, Dự án theo đuổi ba mục đích: a) cải thiện cơ cấu thu nhập của hộ nghèo, phụ nữ, người dân tộc (tăng nguồn thu nhập, và chất lượng thu nhập); b) tăng cường sự tham gia của cộng đồng người nghèo, phụ nữ và người dân tộc trong phát triển kinh tế-xã hội, và c) cải thiện chất lượng dịch vụ công cho người nghèo, cụ thể là tăng cường tính thiên vị cho người nghèo và quan điểm giới trong dịch vụ khuyến nông. Các hoạt động hướng về các mục tiêu của dự án được thiết kế như trình bày trong Bảng 1.

Bảng 1. Khung lô-gic của dự án: ba mục tiêu và các hoạt động chính

Mục tiêu

Các hoạt động và kết quả chính

1. Cải thiện cơ cấu thu nhập của người nghèo và phụ nữ dân tộc

1.1. Xây dựng trạm thực nghiệm làm cơ sở tập huấn, làm mẫu, thử nghiệm, phát sinh tri thức, và điểm tiếp cận thị trường

1.2. Tiếp tục duy trì và hoàn thiện các dịch vụ khuyến nông (tập huấn kỹ năng, các mô hình, thú y)

1.3. Thử nghiệm xây dựng các nguồn thu nhập mới, ví dụ du lịch cộng đồng

2. Tăng cường sự tham gia của nhân dân trong phát triển kinh tế xã hội

2.1. Thực hiện truyền thông về các chính sách và cách hưởng thụ các chính sách

2.2. Các tọa đàm hội thảo về thực hiện chính sách và tiếp cận người dân phương pháp

2.3. Hỗ trợ người nghèo tiếp cận và sử dụng có hiệu quả các chính sách thông qua các hoạt động khuyến nông và tín dụng vi mô, các quỹ phân bón và Quỹ quay vòng lương thực

3. Tăng cường giá trị thiên vị người nghèo và công bằng giới trong các hoạt động khuyến nông

3.1. Xây dựng và và hoàn thiện hai mạng lưới khuyến nông –thú y và tài chính vi mô

3.2. Tổng kết các bài học về phương pháp hỗ trợ giảm nghèo và trao đổi với các cơ quan ban hành và thi hành chính sách

3.3. Tham gia các thảo luận trao đổi ở cấp quốc gia với các thể chế phát triển về các chính sách phát trển nông nghiệp, nông thôn, nông dân và phát triển ở các khu vực dân tộc thiểu số

1.3. Các hoạt động chính của dự án

Hướng về ba mục tiêu đó, trong năm thứ hai của Giai đoạn II, dự án tiếp tục thực hiện ba mảng hoạt động khác nhau. Mục tiêu cải thiện cơ cấu thu nhập thực hiện qua tiếp cận giảm nghèo có trọng tâm thực hiện tại các xã Thu Cúc (huyện Tân Sơn) và xã Tân Lập và Yên Lương (tại huyện Thanh Sơn). Trong các xã, dự án tổ chức các Quỹ quay vòng lương thực, quỹ vật tư phân bón để giúp các hộ nghèo nhất cải thiện an ninh lương thực và điều kiện sản xuất. Hai hoạt động khác là thúc đẩy hoạt động của mạng lưới khuyến nông-thú y và mạng lưới tín dụng cũng góp phần cải thiện thu nhập cho các hộ nghèo thông qua các dịch vụ bảo vệ và chăm sóc sức khỏe gia súc, và cung cấp tín dụng nhỏ kịp thời cho các hộ nghèo. Hoạt động du lịch cộng đồng được thử nghiệm tại hai xã Xuân Đài Kim Thượng, cũng nhằm mục tiêu cải thiện thu nhập. Cũng trong nội dung cải thiện cơ cấu thu nhập, dự án trong giai đoạn này, đã hình thành và đưa vào vận hành được ba trạm thực nghiệm tại ba xã[1] nhằm mục đích xây dựng mô hình điểm và chuyển giao kỹ thuật, cung cấp cây con giống cho bà con trong xã.

Hướng về mục tiêu thứ hai, dự án cung cấp cho bà con các dân tộc và các hộ nghèo về các quyền lợi và cách thức được hưởng từ các chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân của chính phủ. Trong các chính sách đó có các chương trình hỗ trợ vốn, hỗ trợ vật tư nông nghiệp, các hỗ trợ về chăm sóc sức khỏe, cấp bảo hiểm y tế cho người nghèo, và giáo dục cho người nghèo và trẻ em, cũng như phụ nữ. Quyền lợi của người dân được bảo đảm qua các quy định pháp luật về dân chủ cơ sở, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, quyền trẻ em, phòng chống bạo lực gia đình v.v. cũng được phổ biến qua việc phổ biến và truyền thông qua các hội thảo, hội diễn văn nghệ quần chúng.

Vượt lên trên sự tham gia ở mức độ “biết” về các chương trình phát triển kinh tế xã hội, phần mềm của dự án về nâng cao năng lực về sản xuất cho hộ nghèo đã góp phần thúc đẩy người nghèo, phụ nữ và bà con dân tộc tiếp cận đầy đủ hơn, và sử dụng các hỗ trợ của các chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn có hiệu quả hơn. Dự án đã tổ chức nâng cao năng lực trồng trọt và chăn nuôi thú y cho các hộ nghèo dân tộc qua các cuộc tập huấn hay tọa đàm trao đổi kỹ thuật thực hiện ngay tại các thôn bản. Hơn 20 cuộc tập huấn khác nhau về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, ủ chua thức ăn cho gia súc. Ví dụ, cụ thể Xuân Đài - Kim Thượng, Thu Ngạc 4 cuộc, Thu Cúc 4 cuộc, Yên Lương 06 cuộc. Điều đáng chú ý là các cuộc tập huấn và tọa đàm được thực hiện với sự tham gia của các đội ngũ kỹ thuật viên từ các thôn bản đã được dự án chọn lựa và đào tạo qua các giai đoạn trước.

Một phần mềm khác là truyền thông về các chính sách giảm nghèo, các chương trình phát triển nông nghiệp (các chính sách trợ cước trợ giá, hỗ trợ về nhà ở, nước sạch, chữa bệnh cho người nghèo và trẻ em, chính sách bình đằng giới v.v.). Dự án mong đợi qua các cuộc truyền thông và tọa đàm, chính quyền cơ sở, các các bộ chính sách hiểu rõ hơn nhu cầu của cộng đồng, các vướng mắc trong thực hiện chính sách để tháo gỡ. Về phía người dân, khi hiểu biết rõ hơn về các chính sách, quyền lợi và các hưởng thụ, bà con tiếp nhận đầy đủ và sử dụng có hiệu quả các quyền lợi do chính sách đem lại. Qua đó nâng cao tác động giảm nghèo của chính sách.

Nhắm vào mục tiêu thứ ba, dự án tiếp tục hỗ trợ cho mạng lưới khuyến nông và mạng lưới tín dụng hoạt động và phát triển cả về tổ chức, và năng lực chuyên môn kỹ thuật, với các hoạt động hỗ trợ các thành viên phục vụ cộng đồng. Với tháng 5 /2009, dự án đã ký hợp đồng và triển khai tập huấn với các tổ khuyến nông của cả ba xã dự án về tổ chức nâng cao các kỹ năng nông nghiệp cho các hộ nghèo của 10 thôn lựa chọn. Với sự tham gia rộng rãi của các thành viên là khuyến nông viên của các xã, thôn,và các thú y viên, cũng như các cán bộ tín dụng phụ nữ ở mỗi thôn, hoạt động của hai mạng lưới này có triển vọng phát huy tác dụng với toàn bộ hệ thống khuyến nông và tín dụng nhỏ không chỉ ở các xã dự án, và các xã ngoài dự án.

Bước vào năm thứ hai của Giai đoạn Hai, các hoạt động mở rộng sang các cộng đồng mới ở 5 thôn tại ba xã Thu Cúc, Tân Lập, Yên Lương được triển khai theo đúng kế hoạch. Tại các thôn mới, các hoạt động được thực hiện theo các mô hình đã triển khai trong các thôn cũ với các bài học mới. Các hoạt động được mở rộng bao gồm việc xây dựng các nhóm tín dụng phụ nữ, nhóm quay vòng lương thực hoặc nhóm vật tư phân bón, và tập huấn kỹ thuật nông nghiệp cho lao động của các hộ nghèo.



[1] Ở xã Thu Cúc, Trạm thực nghiệm được khởi dựng từ tháng 08/2009; ở Tân Lập và Yên Lương --từ tháng 12/2009.

4. Kết luận chung về tiến độ dự án và định hướng giai đoạn tới

Qua các phân tích, Ban Quản lý Dự án kết luận về những hoạt động của dự án tại hai huyện Thanh Sơn và Tân Sơn như sau:

1. Dự án đã có những hoạt động đúng hướng theo các mục tiêu đề ra, và ở các địa bàn đã hoạch định. Trong ba mục tiêu, dự án các hoạt động ở cấp cơ sở đều có tính tích hợp cao và bổ trợ lẫn nhau. Tuy nhiên, cái đích mà nhiều hoạt động hướng tới hơn vẫn là cải thiện thu nhập cho người nghèo, phụ nữ và người dân tộc thiểu số.

2. Việc thực hiện các trạm thực nghiệm vẫn còn ở giai đoạn ban đầu, và cần tiếp tục đầu tư về cơ sở vật chất con giống, công nhân và kỹ thuật viên để có thể tiến tới có khả năng tự trang trải một cách bền vững. Hiện tại, các trạm đều chưa kế hoạch sản xuất kinh doanh, kể cả kế hoạch ngắn hạn và dài hạn. Dự án nên thực hiện một cuộc tập huấn về khởi sự doanh nghiệp và phát triển kinh doanh cho cán bộ quản lý trạm thực nghiệm và các đối tác.

3. Việc thu hút các khuyến nông viên cơ sở, các hộ nông dân giỏi ở cộng đồng tham thực hiện các hoạt động khuyến nông cùng người nghèo, ngừoi dân tộc và phụ nữ là một hướng đi tốt, do phát huy được nội lực của cộng đồng, và các kỹ thuật nông nghiệp đã được thử nghiệm, phát huy và đề cao tri thức bản địa. Tuy nhiên, việc vận dụng thử nghiệm các kiến thức kỹ thuật nông nghiệp mới cũng cần được quan tâm, và chú ý. Các trạm thực nghiệm nên đảm nhận vai trò thực nghiệm các tiến bộ kỹ thuật từ nơi khác đến để tránh những rủi ro cho cộng đồng, và khi thành công thì có thể là điểm trình diễn, chuyển giao kỹ thuật ngay trong cộng đồng.

4. Hoạt động truyền thông phổ biến chính sách với cộng đồng hiện tại còn hạn chế về số lượng, và số người tham gia. Để cải thiện tình hình này, Dự án cần nghiên cứu hợp tác với cán bộ văn hóa, các cán bộ chính sách hoặc cán bộ chuyên môn khác để phổ biến cho các cộng đồng về quyền lợi chính sách với người nghèo, người phụ nữ và bà con dân tộc. Việc tổ chức các tọa đàm ở cộng đồng cần thời gian, kỹ năng để tạo sự hứng thú, quan tâm về quyền lợi chính sách ở cộng đồng. Việc hợp tác với các bộ văn hoá truyền thông của xã hiện tại còn chưa hình thành và đưa vào hoạt động.

5. Với khoảng thời gian còn lại cho tới cuối dự án (ngày 30 tháng 9 năm 2009) chỉ còn 4 tháng hay là 120 ngày, dự án cần làm rõ các kế hoạch làm việc, nhất là với các thôn mới mở rộng ở hai xã, để bảo đảm các hoạt động đó được hoàn thiện. Đặc biệt, dự án cần xây dựng cơ chế hỗ trợ tại chỗ để các cộng đồng ở các thôn mới mở rộng, như Thôn Tân Lập, Thôn Mỹ Á (xã Thu Cúc), thôn Quất và Bồ xồ (xã Yên Lương), Thôn Chủng và Hạ Thành (xã Tân Lập) để có thể duy trì được các hoạt động ở đó được lâu dài.

6. Hoạt động nâng cao năng lực về xây dựng và phát triển tổ chức, quản lý tài chính, xây dựng và quản lý dự án, theo dõi và giám sát, các kỹ năng khuyến nông, truyền thông cần được thu xếp để thực hiện cho các đối tác, nhằm giúp các tổ chức đối tác có khả năng tiếp nhận và duy trì lâu dài các hoạt động, các nguồn lực mà dự án bàn giao.

7. Các hoạt động ở huyện Tân Sơn và Thanh Sơn, mới được bắt đầu từ năm 2004, và được khoảng 5 năm. Để phát huy các kết quả đã được trên cơ sở các bài học thu từ các xã Dự án, RDSC nên thảo luận với UBND huyện về việc phối hợp mở rộng dự án sang thêm ít nhất là hai xã nữa trong thời gian ba năm tới.

8. Như nhiều cuộc tham khảo ý kiến với các cộng đồng có hoạt động du lịch cộng đồng bền vững, để phát triển du lịch cộng đồng cần quãng thời gian từ 6-8 năm. Hiện tại, việc xây dựng các nền móng ban đầu cho chương trình du lịch cộng đồng đã đạt được các nền móng ban đầu. Dự án cần tiếp tục tìm kiếm sự hỗ trợ cho cộng đồng tiếp tục xây dựng hoạt động du lịch cộng đồng như một ngành kinh tế của xã ít nhất là trong ba năm nữa. Đặc biệt, Dự án cần tiếp tục tìm và xây dựng liên kết giữa cộng đồng với công ty du lịch nhằm phát triển các sản phẩm du lịch có định hướng phát triển cộng đồng, sinh thái, hoặc văn hóa.

9. Hoạt động mạng lưới đang trên đường hoàn thiện thủ tục để đăng ký hoạt động như một tổ chức dịch vụ của cộng đồng. Dự án nên sớm có các hoạt động giúp cho tổ chức này xây dựng kế hoạch kinh doanh, hệ thống tổ chức, và năng lực cán bộ. Việc xây dựng tổ chứccũng cần một khoảng thời gian khá dài để tổ chức hoạt động ổn định và vững mạnh trong kinh tế thị trường và cạnh tranh cao. Bản thân việc phát triển tổ chức này nên hình thành như một dự án riêng.

10. Theo gợi ý của UBND huyện Thanh Sơn, hai xã nên mở rộng trong chương trình ba năm tới là Khả Cửu và Thượng Cửu, với huyện Tân Sơn là hai xã Tân Phú và Kiệt Sơn. RDSC nên hạn chế các hoạt động mà yêu cầu sự có mặt của người nước ngoài tại các xã Tân Lập (huyện Thanh Sơn), và xã Thu Ngạc (huyện Tân Sơn). RDSC cần sớm hoàn thành các báo cáo khảo sát điều tra để làm căn cứ xây dựng các dự án. Các dự thảo đề cương dự án cho các xã mới cần hoàn thiện và sớm gửi xin chủ chương của UBND Tỉnh. Trong các dự án, nên có hợp phần tiếp tục duy trì củng cố các hoạt động của xã Thu Cúc, Yên Lương (Tân Lập?) cũng như mở rộng hoạt động của dự án sang quy mô toàn xã. Trong dự án mới nên bố trí nhân lực tuyển dụng chính nhiệm hoặc kiêm nhiệm từ ngay nguồn nhân lực trong xã, đặc biệt nên sử dụng đội ngũ cán bộ chuyên môn của UBND xã cung tham giam thực hiện dự án.

11. Trong hoàn cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, và suy giảm tăng trưởng trong nước, việc huy động các nguồn lực viện trợ là một thách thức lớn. Với dự án ở Phú thọ đã kéo dài tới 15 năm, việc nhà tài trợ ICCO tiếp tục hỗ trợ tại địa phương là một khả năng không dễ dàng có. RDSC cần chuẩn bị cho việc mở rộng cùng sự án sang các tỉnh khác lân cận với Phú Thọ, ví dụ Yên Bái, Sơn La, Hòa Bình. Với các tỉnh lân cận, việc vận dụng các nguồn lực kỹ thuật và con người ở các vùng dự án sẽ thuận lợi cho việc triển khai nhanh và hiệu quả ở các vùng dự án mới. Đặc biệt, RDSC cần tìm cách tiếp cận các nhà tài trợ chủ chốt mới, đồng thời cần coi trọng các nguồn tài trợ nhỏ và ngắn hạn. Các kỹ năng lập kế hoạch, viết dự án và huy động viện trợ cũng cần sớm chuyển giao cho các tổ chức cộng đồng.



[1] Giai đoạn I của dự án thực hiện trong ba năm từ 1/10/2004 đến 30/09/2007 tại ba huyện Thanh Thủy, Thanh Sơn và Tân Sơn của tỉnh Phú Thọ.

Số lượt đọc:  40  -  Cập nhật lần cuối:  21/06/2009 11:48:11 PM
Bài mới:  
Bài đã đăng:
Các bài được đọc nhiều nhất
23/11/2009 12:49' PM
Tham quan trại nuôi gà và nuôi giun tại xã Xuân Lũng
14/09/2009 03:52' PM
Kỹ thuật chăn nuôi thỏ quy mô hộ gia đình tại Phú Thọ
26/11/2006 01:19' AM
Tài liệu về Chương trình 135 Giai đoạn 2 (2006-2010)
08/04/2009 05:33' AM
Vai trò giới trong phân công lao động gia đình ở Việt Nam qua những biến động xã hội
16/07/2006 09:01' AM
Kỹ thuật Trồng và Chăm sóc Tre Bát độ để lấy Măng
24/06/2006 08:54' AM
Viết Thu hoạch sau Cuộc Tham quan Học tập
14/09/2009 10:06' PM
Kỹ thuật trồng nấm mèo
15/06/2010 08:40' PM
Mẹo sử dụng và cài đặt font tiếng Việt cho SPSS 15 và 16
11/03/2009 05:51' AM
Chia sẻ kỹ thuật chăm sóc heo nái khi sanh sản và hậu sanh sản
21/02/2008 09:24' AM
Hướng dẫn lập và sử dụng trang web qua My.opera.com
Đăng ký nhận tin thư
Họ và tên:
Email:
Tổng số lượt truy cập: 5.776.290
Số người trực tuyến: 30

©2004 Bản quyền Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn - RDSC
Số 2 nhà D, 45/39 Hào Nam, Đống Đa, Hà Nội,Việt Nam
Email: rdsc@netnam.vn - Phone: +84-4-3-512 1175 - Fax: +84-4-3-512 1175
Website được xây dựng trên Công nghệ ViePortal của Hanoi Software JSC