RDSCVN
Đang tải dữ liệu...

Giới thiệu RDSC    |    Tin tức sự kiện    |    Diễn đàn    |    IDMA    |    Video    |    Âm thanh    |    Gallery    |    Slide show

Trưng cầu ý kiến
Dành cho các anh/chị kế toán.
Trong thực tế, Anh/chị dùng phần mềm kế toán chuyên dụng chủ yếu để làm việc gì? Không chọn quá 3 phương án.
 
Hỗ trợ trực tuyến

Nghiên cứu và tư vấn

Vai trò giới trong phân công lao động gia đình ở Việt Nam qua những biến động xã hội

Toạ đàm về phân công giới trong lao động gia đình ở Việt Nam qua những biến động xã hội

Ngày 7 tháng 2 năm 2009

Ngày 2 tháng 4 năm 2009, tại Viện Xã hội học, nhóm tác giả nghiên cứu gồm Giáo sư xã hội học John Knodel, Trung tâm Nghiên cứu Dân số (Đại học Michigan, USA) và Phó giáo sư xã hội học Bussarawan Puk Teerawichitchainan, Trường Khoa học xã hội (Đại học Quản lý Singapore) Phó giáo sư, TS Vũ Mạnh Lợi và Phó giáo sư TS Vũ Tuấn Huy, Viện Xã hội học, đã báo báo kết quả nghiên cứu về phân công giới trong lao động gia đình ở Việt Nam. Tham gia cuộc tọa đàm (bằng tiếng Anh) có các cán bộ nghiên cứu, nghiên cứu sinh, và học sinh cao học của Viện. Toàn văn báo cáo nghiên cứu (tiếng Anh) có thể tải từ http://www.psc.isr.umich.edu/pubs/abs/5634.

Chú trọng đến chủ đề phân công trong lao động gia đình, Đề tài đã tìm câu trả lời cho các câu hỏi là những biến đổi xã hội những năm qua đã tác động thế nào đến sự phân tầng về giới và phụ nữ Việt Nam đã có những vị trí gì trong không gian gia đình (domestic sphere). Đề tài được thực hiện trong bối cảnh còn ít các tri thức về vai trò giới trong gia đình ở Việt Nam, các nghiên cứu về chủ đề này còn thưa thớt, và thiếu một bộ cơ sở dữ liệu về phân công lao động gia đình.

Xã hội Việt Nam trong hơn 30 năm qua đã trải qua những biến đổi về cấu trúc xã hội, hệ tư tưởng và một mối quan tâm đang nổi lên là những biến động này tác động thế nào đến vai trò giới trong gia đình. Những mốc của biến động xã hội được chọn để nghiên cứu là chiến tranh Chống Mỹ (nói theo kiểu của tác giả là chiến tranh Việt Nam) và huy động xã hội (1965-1975); Mốc thứ hai là giai đoạn tập thể hoá xã hội chủ nghĩa và suy thoái kinh tế Cuối 1970-giữa 1980); và mốc thứ ba là cải cách kinh tế theo cơ chế thị trường (cuối 1980 đến nay).

Về không gian, đề tài so sánh những khác biệt ở hai miền nam bắc, mà theo tác giả đã trải nghiệm những “đoạn trường” khác nhau. Phía Bắc đã trải nghiệm nhiều hơn với các chính sách xã hội chủ nghĩa, còn phía Nam thì có tiếp cận nhiều hơn với thông tin của phương Tây. Sự khác biệt giữa hai miền cũng thể hiện trong sự khác biệt về tuối kết hôn, các lễ nghi cưới xin ăn hỏi v.v.

Các quan điểm lý luận được các tác giả chú ý xem xét bao gồm các quan điểm về thời gian của cá nhân (ví dụ, phụ nữ có nhiều thời gian ở nhà hơn, thì làm nhiều việc nhà hơn); quan điểm trao đổi nguồn lực (ví dụ, ai có nhiều quyền lực hơn, như kiếm nhiều thu nhập hơn, thì làm ít việc nhà hơn), và vai trò giới do văn hóa quy định (ví dụ niềm tin quyết định là phụ nữ phải làm hoặc nên làm việc nhà nhất định). Tuy nhiên, các tác giả cho rằng không một luận điểm nào là thống lĩnh và nhiều khi cả hai hay nhiều quan điểm cùng hoạt động cùng một lúc.

Dựa trên tổng quan các tài liệu, các tác giả cho biết, về mặt lịch sử, phụ nữ Việt Nam có vai trò tích cực trong hoạt động kinh tế. Các chính sách xã hội chủ nghĩa cũng rất khuyến khích phụ nữ tham gia lực lượng lao động, và còn tạo điều kiện khuyến khích cả nam và nữ tiếp nhận các cơ hội học vấn. Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nữ tham gia lực lượng lao động cao nhất trên thế giới (ILO, 2006). Thời gian nghỉ để ít cũng ít làm gián đoạn việc phụ nữ tham gia lực lượng lao động. Tài liệu cũng cho biết nói chung, khoảng cách về lương giữa nam và nữ ngày càng giảm, năm 1992-3 khoảng cách này là 31%, năm 1998-22%, và năm 2002-15%.

Theo các tác giả, về mặt hệ tư tưởng, ở xã hội Việt Nam hiện đại luôn có các hệ tư tưởng đối lập và cùng tồn tại. Tư tưởng của đạo Khổng giáo (hệ phụ quyền) tỏ ra ít nghiêm ngặt. Các tư tưởng của chủ nghĩa xã hội xóa bỏ sở hữu tư nhân, khuyến khích bình đẳng nam nữ, hỗ trợ hoạt động của một tổ chức phụ nữ mạnh mẽ. Tuy nhiên, theo các tác giả, xã hội ở phía nam ít tuân thủ các quy tắc của hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa so với phía Bắc. Trong giai đoạn cải cách thị trường, các giá trị và truyền thống phụ quyền đang khôi phục trở lại, tuy nhiên xã hội cũng có những thể chế mới khuyến khích bình đẳng giới là các tổ chức thuộc hệ thống Liên hiệp quốc và các tổ chức phi chinh phủ (NGOs).

Về phần thực địa, đề tài thực hiện thu thập số liệu ở hai vùng: vùng một là 7 tỉnh đồng bằng Sông Hồng; vùng hai là thành phố Hồ Chí Minh và 6 tỉnh lân cận. Tất cả có 1296 mẫu được thu thập đều nhau từ ba nhóm “thời chiến”, “thời thống nhất đất nước” và thời kỳ đổi mới. Mỗi thời kỳ lại có số mẫu bằng nhau về giới tính, và đô thị và nông thôn. Kiểu lấy mẫu này thực hiện theo tiếp cận phân tổ đa tầng chia nhóm (multi-stage stratified cluster sampling). Thời gian nghiên cứu của đề tài là giai đoan 2003-2004

Các đo lường xã hội được thực hiện theo giai đoạn của vòng đời, và với một số nhóm phải dùng các câu hỏi hồi cố. Ví dụ về các câu hỏi là “khi mới cưới thì anh /chị làm gì? “ hoặc “khi con đầu lòng một tuổi thì anh chị làm gì?”, hoặc “anh/chị làm gì khi con đầu đến tuổi đi học?”

Từ phân tích các kết quả điều tra, các tác giả ghi nhận, ở Việt Nam, các người vợ là người chủ yếu nắm giữ “túi tiền” của gia đình. Với ba nhóm mẫu của các thời kỳ, “thời chiến”, “thời thống nhất đất nước” và “thời kỳ đổi mới”, các con số tương ứng là 65-68%, 70-72%, và 63-73%. Các tác giả cũng ghi nhận người chồng trẻ hơn đang tham gia quản lý tài chính gia đình nhiều hơn, nhất là ở phía Bắc.

Về công việc nội trợ, phụ nữ vẫn là người đảm trách chủ yếu, với ba thời kỳ các con số thống kê tương ứng là 83,5-85%, 83,7-85,0% và 84,0-81%. Các tác giả nhận định đàn ông phía Bắc tỏ ra hữu ích và giúp đỡ nhiều hơn, nhưng ở phía Nam ngày càng có nhiều đàn ông tham gia giúp phụ nữ đảm nhận việc nhà. Với việc chăm sóc con cái, phụ nữ vấn đóng vai trò chủ chốt, nhưng càng ngày càng nhiều đàn ông tham gia hơn, đặc biệt người chồng ở miền Bắc tham gia chăm sóc con nhiều hơn.

Các tác giả kết luận là các biến đổi xã hội lớn đã diễn ra ở Việt nam trong những năm qua đã không có tác động âm tính tới vai trò giới. Phụ nữ vẫn tiếp tục đóng các vai trò lớn trong công việc nội trợ và chăm sóc con cái, nhưng mức độ tham gia của nam giới cũng đang tăng lên. Giữa các miền, sự khác biệt về vai trò giới cũng có nhưng khiêm tốn. Học vấn và việc làm của người vợ đã tỏ ra có tác động ít tới đóng góp của chồng trong việc nhà. Quan điểm lý thuyết về trao đổi nguồn lực tỏ ra ít có bằng chứng xác nhận. Các tác giả cho rằng các giá trị truyền thống về gia đình có sức sống bền bỉ, và tồn tại vượt lên trên các biến đổi xã hội mạnh mẽ. Nghiên cứu của các tác giả ghi nhận trong xã hội Việt Nam có những lực lượng xã hội đối chọi theo hướng thúc đẩy bình đẳng nam nữ và làm gia tăng bất bình đẳng giới. Các tác giả ghi nhận sự thích ứng của các giá trị về vai trò giới như một cách đáp ứng với những biến đổi xã hội ở Việt Nam, ví dụ một mức sống mới đang hình thành của tầng lớp trung lưu, hoặc những nhu cầu cao về học vấn cho trẻ em.

Trong phần thảo luận, các tham dự viên đã cảm ơn các nghiên cứu viên, và đề cao những chia sẻ phong phú về phương pháp luận và kết quả phân tích của đề tài nghiên cứu. Các tham dự viên cũng đặt vấn đề về những thay đổi lớn về công nghệ kỹ thuật trong sinh hoạt gia đình đã diễn ra trong gia đình Việt Nam qua các giai đoạn thời gian. Biến số này cũng đáng được xem xét trong nghiên cứu về vai trò giới. Các biến đổi lớn rõ nét nhất và phổ biến đó là điện, các phương tiện truyền thông và giải trí đại chúng, xe máy, và điện thoại (di động). Các tham dự viên cũng mong muốn có những tọa đàm tiếp theo về phương pháp phân tích đa biến đã thực hiện trên bộ số liệu mà khuôn khổ thời gian của cuộc tọa đàm này không cho phép đề cập. /.

Đặng Ngọc Quang

Số lượt đọc:  5051  -  Cập nhật lần cuối:  09/04/2009 05:33:50 AM
Bài mới:  
Bài đã đăng:
Các bài được đọc nhiều nhất
14/09/2009 03:52' PM
Kỹ thuật chăn nuôi thỏ quy mô hộ gia đình tại Phú Thọ
23/11/2009 12:49' PM
Tham quan trại nuôi gà và nuôi giun tại xã Xuân Lũng
24/06/2006 08:54' AM
Viết Thu hoạch sau Cuộc Tham quan Học tập
15/06/2010 08:40' PM
Mẹo sử dụng và cài đặt font tiếng Việt cho SPSS 15 và 16
16/07/2006 09:01' AM
Kỹ thuật Trồng và Chăm sóc Tre Bát độ để lấy Măng
11/02/2011 12:23' PM
Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới 2011-2020
11/03/2009 05:51' AM
Chia sẻ kỹ thuật chăm sóc heo nái khi sanh sản và hậu sanh sản
11/02/2011 11:48' PM
Ghi chép các nghiệp vụ kế toán với các tài khoản chữ T
14/09/2009 10:06' PM
Kỹ thuật trồng nấm mèo
26/11/2006 01:19' AM
Tài liệu về Chương trình 135 Giai đoạn 2 (2006-2010)
Đăng ký nhận tin thư
Họ và tên:
Email:
Tổng số lượt truy cập: 7.433.231
Số người trực tuyến: 24

©2004 Bản quyền Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn - RDSC
Số 2 nhà D, 45/39 Hào Nam, Đống Đa, Hà Nội,Việt Nam
Email: saola52@gmail.com - Phone: +84-913229762 - Fax: +84-4-3-512 1175
Website được xây dựng trên Công nghệ ViePortal của Hanoi Software JSC