RDSCVN
Đang tải dữ liệu...

Giới thiệu RDSC    |    Tin tức sự kiện    |    Diễn đàn    |    IDMA    |    Video    |    Âm thanh    |    Gallery    |    Slide show

Trưng cầu ý kiến
Dành cho các anh/chị kế toán.
Trong thực tế, Anh/chị dùng phần mềm kế toán chuyên dụng chủ yếu để làm việc gì? Không chọn quá 3 phương án.
 
Hỗ trợ trực tuyến

Nghiên cứu và tư vấn

Mạn đàm về vận dụng nghiên cứu định tính trong quản lý dự án

DNQ

Mạn đàm về vận dụng nghiên cứu định tính trong quản lý

Đặng Ngọc Quang, RDSC

Hà Nội, 16 tháng 10 năm 2007

Đặt vấn đề

Trong quá trình quản lý, nói riêng về quản lý dự án, việc ra các quyết định tiếp tục hay điều chỉnh các hoạt động dự án cần phải dựa vào các bằng chứng xác thực. Các hoạt động nghiên cứu giúp cho các nhà quản lý có các bằng chứn đó. Các bằng chứng cần có không chỉ vào thời điểm bắt đầu dự án, và trong toàn bộ tiến trình thực hiện một dự án. Khi đó, kinh nghiệm cho thấy các nghiên cứu định tính có vai trò chủ chốt trong việc cung cấp cho các nhà quản lý các thông tin quản lý. Bài viết này thảo luận với các cán bộ dự án hoặc các nghiên cứu viên trẻ về vai trò về nghiên cứu định tính và tiến trình phân tích số liệu của tiếp cận nghiên cứu định tính.

Vài nét về nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính thường có các mục đích là để chỉ ra phát hiện nhóm định danh các sự kiện xã hội lý giải các xu hướng, phát hiện các nhân tố tác động. Nghiên cứu định tính có thể được thực hiện độc lập, hoặc kết hợp với các nghiên cứu định lượng, hoặc các điều tra xã hội.

Nghiên cứu định tính cũng được thiết kế theo các nguyên tắc chung, giống như nghiên cứu định lượng. Khi thiết kế nghiên cứu cũng cần xác định rõ các chủ thể thực nghiệm và đối chứng, các biến sơ cấp, biến thứ cấp (có khi cả biến trung gian), và các biến can thiệp. Các biến đỗi xã hội diễn ra theo thời gian, nên nghiên cứu định tính cũng cần thu thập và phân tích theo trục này để phát hiện (và có thể để loại bỏ) những yếu tố thay đổi mang tính tự nhiên do tuổi tác của cá nhân, của nhóm, và của cộng đồng.

Thu thập số liệu

Việc chọn mẫu trong nghiên cứu định tính khác hẳn so với nghiên cứu điều tra (survey). Thường là mẫu được chọn theo chủ ý với các cá nhân đại diện (hoặc nhóm cá nhân), hoặc các cá nhân cá biệt (dương tính hoặc âm tính xét theo chủ đề nghiên cứu). Cũng thường chọn mẫu theo kiểu giới thiệu lan toả như phản ứng dây chuyền. Thông tin được thu thập cho tới khi không có dấu hiệu mới, thì lượng mẫu được coi là đủ. Cũng giống như nghiên cứu định lượng, chất lượng mẫu quyết định toàn bộ chất lượng của quá trình nghiên cứu. Hơn nữa, do số mẫu trong nghiên cứu định tính thường nhỏ, tác động của những sai lệch khi chọn mẫu với kết quả nghiên cứu thường rất nghiêm trọng. Nhiều khi, các cán bộ nghiên cứu hay cán bộ dự án trẻ bị gạt ra khỏi các đề tài nghiên cứu định tính, lý do chính là việc chọn mẫu thường là do nghiên cứu viên quyết định ngay tại hiện trường khi thu thập thông tin.

Sẽ ngạc nhiên, nếu có người cho rằng công cụ nghiên cứu định tính chính là bộ óc của nghiên cứu viên. Nhưng có lẽ chính là như vậy. Nghiên cứu viên dựa vào kiến thức và kinh nghiệm của mình để định hướng quá trình thu thập tin, ví dụ các chủ đề, các câu hỏi, cách xây dựng quan hệ với đôí tượng nghiên cứu. Nhiều nhà nghiên cứu định tính đi hiện trường chỉ có một sổ tay với những gạch đầu dòng cho đề tài của mình, tuy vậy trong óc họ khung nghiên cứu đã được đóng khung vững chắc. Tuy vậy, khi làm việc trng một tập thể, các cuộc nghiên cứu cũng cần có những công cụ cụ thể để định hướng chung cho các thành viên. Công cụ để thu thập thông tin định tính thường là các khung chủ đề, hoặc bảng kê các câu hỏi chính hướng về các văn bản được ghi nhận khi phỏng vấn phi cấu trúc, bán cấu trúc, hoặc qua các câu chuyện tự kể. Một công cụ thu thập thông định tích cũng thường là các khung chủ đề hay bảng kê các câu hỏi cho cuộc phỏng vấn hoặc thảo luận với nhóm.

Việc thu thập thông tin và chất lượng các thông tin thu được phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng và đặc điểm của các điều tra viên. Trong quá trình thu thập tin, điều tra viên phải có năng lực đưa ra nhiều quyết định quan trọng, như xác định và lựa chọn mẫu, xây dựng quan hệ với người được phỏng vấn, phương thức bắt đầu và kết thúc cuộc phỏng vấn, quyết định chiều sâu của cuộc phỏng vấn, đưa ra các định hướng mới để tìm hiểu, và cách thức ghi nhận thông tin.

Một kiểu nghiên cứu định tính với phương pháp quan sát tham dự, có khi còn được gọi là nghiên cứu dân tộc học. Trong phương pháp này nghiên cứu viên thực hiện các quan sát như là một thành viên của nhóm đối tượng nghiên cứu trong một thời gian khá dài. Sự phòng ngừa mang tính tự với của các đối tượng nghiên cứu với điều tra viên như một nhân vật ngoại lai bị tan biến trong quá trình quan sát như vậy. Với quá trình quan sát dài hơi như vậy, các yếu tố bản chất được phát hiện tốt hơn so với các nghiên cứu mang tính lát cắt về thời gian.

Dữ liệu nghiên cứu định tính, chẳng hạn các câu chuyện hoặc các biên bản các cuộc phỏng vấn, là nền tảng cho việc phân tích định tính được thực hiện dựa trên . Tiến trình nghiên cứu định tính có thể khác nhau với mỗi người, nhưng có thể có các bước sau và theo trình tự trong phần tiếp theo.

Làm giàu biên bản phỏng vấn

Khâu đầu tiên trong phân tích số liệu lại là việc đọc lại ngay các kết quả phỏng vấn để làm rõ các ý tứ của người trả lời, mà nhiều khi chữ nghĩa ghi chép không phản ánh hết, mà phải phản ánh bằng cách ghi chép hay mô tả khác. Cũng có nhiều thông tin mà việc ghi chép bỏ qua khi phỏng vấn, như các ngôn ngữ cử chỉ tay, chân, giọng nói, nét mặt, ánh mắt, việc đi lại. Nhiều khi các ngôn ngữ cử chỉ này nhấn mạnh, hoặc phủ nhận ngôn ngữ nói. Hoặc có thể đó là các cách thức đề lảng tránh một chủ đề nhậy cảm. Bối cảnh của cuộc phỏng vấn cũng có ý nghĩa quan trọng với nội dung cuộc thảo luận hoặc nói chuyện.

Sự có mặt của các thành viên gia đình hoặc cộng đồng có quyền lực cao hơn, ví dụ chồng, hoặc ông bà, hay đại diện của cơ quan cấp trên, hay nhả nước có thể làm cho cuộc phỏng vấn nhiều khi không còn thực chất phản ánh quan niệm hoặc phân tích của người được hỏi. Đơn giản là người ta cần có sự an toàn để sống lâu dài trong môi trường của mình sau khi ngươi điều tra viên ra đi.

Nghiên cứu viên chỉ có thể kiểm định lại nội dung cuộc phỏng vấn cá nhân hay nhóm ngay trong ngày, khi trí nhớ còn mới nguyên, và không bị nhanh chóng quên đi do các sự kiện dồn dập của cuộc khảo sát. Việc chiếu lại như một bộ phim trong óc tiến trình phỏng vấn, các câu hỏi và các câu trả lời, khung cảnh của cuộc phỏng vấn còn giúp điều tra viên phát hiện ra các chỗ thiếu hụt, các điều mới cần lý giải. Nghiên cứu viên cũng có thể có căn cứ để thay đổi hoặc hoàn thiện các phưong pháp thu thập thông tin mới, hoặc bổ xung mẫu điều tra để hoàn thiện số liệu cho cuộc nghiên cứu.

Đánh máy và lưu trữ

Máy vi tính giúp các nghiên cứu phân tích nhanh chóng và có chất lượng cao kể cả với các nghiên cứu định tính, nhưng việc đầu tiên phải làm là đánh máy các biên bản phỏng vấn hoặc các câu chuyện đã nghe. Trong quá trình đánh máy, nghiên cứu viên cần làm rõ một lần nữa những ý kiến hoặc bình luận của mình và của người quan sát có mặt để tách bạch với thông tin thu thập từ đối tượng nghiên cứu. Chỉ nghiên cứu viên mới tách bạch như vậy được, nên việc nhập số liệu như thế này không nên giao cho người khác, và đây cũng là sự khác biệt so với nghiên cứu kiểu điều tra.

Các biên bản cần được đánh số, mã hoá, và lưu trữ như một cơ sở dự liệu gốc để kiểm định các kết luận hoặc để dùng lâu dài.

Sắp xếp nội dung các biên bản theo một cấu trúc

Trong quá trình phỏng vấn, các nghiên cứu viên thường dùng các câu hỏi theo những nhóm chủ đề xác định, tuy thời đặt ra các câu hỏi có thể ở các vị trí khác nhau trong tiến trình phỏng vấn. Các chủ đề này thường được xây dựng dựa trên khung nghiên cứu (hay đây chính là bộ xương) của đề tài. Bộ khung này hàm chứa các biến nghiên cứu, gồm biến sơ cấp, biến thứ cấp, biến can thiệp. Các biến này là cơ sở để mã hoá các thông tin chứa đựng trong các biên bản phỏng vấn.

Khi làm việc với các biên bản phỏng vấn đựoc dùng để sử lý cần được copy từ cơ sở dữ liệu và dùng riêng biệt. Các nghiên cứu viên có thể dùng khung nghiên cứu nói trên để xắp xếp nội dung các cuộc phỏng vấn theo các chủ đề thông nhất cho các biên bản. Các chủ đề và các tiêu đề chi tiết là các nội dung nghiên cứu của từng biên bản.

Các phép so sánh đối chiếu

Trước khi phân tích, nghiên cứu viên cần chú ý đọc một vài lượt các đoạn văn bản để tìm đến các cụm ý, có thể được biểu đạt hoặc diễn đạt khác nhau, nhưng phản ánh các biến nghiên cứu, nhưng lặp lại ở các đoạn văn bản của các trường hợp nghiên cứu (cases). Những cụm ý như vậy thường được đánh dấu bằng mầu để dễ quan sát và đếm. các câu và cụm từ bao quanh các ý đó cũng thường mô tả bối cảnh thay đổi các biến nghiên cứu, và vì vậy cũng được chú ý. Việc này còn được gọi là mã hoá số liệu định tính.

Bước phân tích tiếp theo là so sánh các nhân tố, các ý kiến, quan niệm, các đề xuất trong một chủ đề và tiểu chủ đề của các biên bản thu thập từ cùng một nhóm. Ví dụ, khi phân tích chủ đề các nguồn vốn đã vay trong năm qua, các đoạn phỏng vấn từ các biên bản của các cá nhân trong nhóm hộ nghèo nữ được để cạnh nhau (chú ý giữ nguyên mã số của các biên bản); hoặc phẩn trả lời của các nam giới trong hộ nghèo để cạnh nhau. Từ việc so sánh này, chúng ta có thể phát hiện ra các nguồn vay tới dược với hộ nghèo, và sự khác biệt của các nguồn vốn này dưới con mắt nhìn của nam và nữ.

Nghiên cứu viên cũng cần thực hiện các so sánh tương tự với các nhóm đối chứng, với thời gian đối chứng, ví dụ trước và sau can thiệp. Việc so sánh được thực hiện với các biến can thiệp trước (do các yếu tố ngoại cảnh tác động), để loại trừ các trường hợp không thể so sánh được do họ có các hoàn cảnh hoàn toàn khác biệt.

Khi so sánh cùng nhóm, mục đích của phân tích chủ yếu là phát hiện các điểm chung của các trường hợp (người trả lời). Còn khi so sánh giữa các nhóm đối chứng và nhóm thưc jnghiệm, người ta cố gắng tìm ra sự khác biệt. Cũng cần chú ý là với các cá nhân, có những thay đổi là do tự nhiên, ví dụ tuổi tác khi con cái trưởng thành, hoặc sức khoẻ giảm do già yếu.

Các trường hợp cực đoan trong bộ mẫu phỏng vấn thường được dùng để kiểm nghiệm xem xét các đặc trưng của nhóm mẫu. Người ta cho rằng, thông thường các mẫu cực đoan mang trong mình một cách tiêu biểu và đầy đủ nhất các dấu hiệu của một nhóm xã hội được nghiên cứu, và thường thể hiện rõ nhất các yếu tố tạo nên sự tác động. Tuy nhiên, các trường hợp cực đoan thường tạo ra ấn tượng mạnh, làm cho nghiên cứu viên dễ coi đấy là trường hợp đặc trưng cho cả nhóm mẫu, mà thực ra nhiều khi không phải như vậy.

Quan hệ giữa những biến sơ cấp (các can thiệp của thực nghiệm) và các biến thứ cấp (các yếu tố xẩy ra dưới tác động của các biến sơ cấp thường được phát hiện qua các lý giải hoặc các quan hệ nhân quả được mô tả trong các biên bản. Các cuộc thảo luận nhóm thường có tác dụng tốt để phát hiện các quan hệ này khi nghiên cứu định tính.

Kết luận

Trong quan hệ xã hội, sự thay đổi các đặc tính của một nhóm thường do tác động của nhiều yếu tố, chứ rất ít khi là hệ quả của một yếu tố. Ngoài ra, tính chất nhân quả của những sự thay đổi không phải đơn nhất, mà có tính hai chiều. Vì vậy, việc đưa ra các kết luận, và các lý giải khi nghiên cứu định tính cần có sự cẩn trọng rất cao. Các quan hệ lô-gíc sẽ hữu ích khi được vận dụng, nhưng do không thể tách bạch được các can thiệp của các yếu tố xã hội, nhiều khi các kết luận của nghiên cứu mang tính không chắc chắn, mà thiên là những khả năng. Không chỉ quan trọng khi thực hiện một đề tài nghiên cứu lơn, hoặc khi đánh giá dự án, các chuyến đi theo dõi dự án trong phạm vi một đến hai ngày, khi được chuẩn bị kỹ lưỡng theo một đề cương nghiên cứu có thể đủ đề thực hiện một hoạt động nghiên cứu và giúp cho việc ra các quyết định điều chỉnh hoạt động dựa vào các bằng chưng xác thực và có thể kiểm định được.

Số lượt đọc:  727  -  Cập nhật lần cuối:  12/03/2009 08:38:13 AM
Bài mới:  
Bài đã đăng:
Các bài được đọc nhiều nhất
23/11/2009 12:49' PM
Tham quan trại nuôi gà và nuôi giun tại xã Xuân Lũng
26/11/2006 01:19' AM
Tài liệu về Chương trình 135 Giai đoạn 2 (2006-2010)
14/09/2009 03:52' PM
Kỹ thuật chăn nuôi thỏ quy mô hộ gia đình tại Phú Thọ
08/04/2009 05:33' AM
Vai trò giới trong phân công lao động gia đình ở Việt Nam qua những biến động xã hội
16/07/2006 09:01' AM
Kỹ thuật Trồng và Chăm sóc Tre Bát độ để lấy Măng
14/09/2009 10:06' PM
Kỹ thuật trồng nấm mèo
21/02/2008 09:24' AM
Hướng dẫn lập và sử dụng trang web qua My.opera.com
15/06/2010 08:40' PM
Mẹo sử dụng và cài đặt font tiếng Việt cho SPSS 15 và 16
11/03/2009 05:51' AM
Chia sẻ kỹ thuật chăm sóc heo nái khi sanh sản và hậu sanh sản
24/06/2006 08:54' AM
Viết Thu hoạch sau Cuộc Tham quan Học tập
Đăng ký nhận tin thư
Họ và tên:
Email:
Tổng số lượt truy cập: 5.486.325
Số người trực tuyến: 21

©2004 Bản quyền Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn - RDSC
Số 2 nhà D, 45/39 Hào Nam, Đống Đa, Hà Nội,Việt Nam
Email: rdsc@netnam.vn - Phone: +84-4-3-512 1175 - Fax: +84-4-3-512 1175
Website được xây dựng trên Công nghệ ViePortal của Hanoi Software JSC