RDSCVN
Đang tải dữ liệu...

Giới thiệu RDSC    |    Tin tức sự kiện    |    Diễn đàn    |    IDMA    |    Video    |    Âm thanh    |    Gallery    |    Slide show

Trưng cầu ý kiến
Dành cho các anh/chị kế toán.
Trong thực tế, Anh/chị dùng phần mềm kế toán chuyên dụng chủ yếu để làm việc gì? Không chọn quá 3 phương án.
 
Hỗ trợ trực tuyến

Nghiên cứu và tư vấn
Kêu gọi góp ý

Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng Giới tới năm 2020 (Dự thảo, Phần 1)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bình đẳng giới là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, là nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội. Bình đẳng giới vừa là mục tiêu vừa là cơ sở thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xây dựng xã hội ổn định và đồng thuận, phát triển bền vững đất nước.

Trong những năm qua, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về bình đẳng giới. Vị trí xếp hạng của chỉ số phát triển giới (GDI) tăng trong vòng 15 năm qua, từ mức trung bình thấp năm 1995 (đạt giá trị 0,537, đứng vị trí thứ 72/130 nước) lên mức trung bình cao năm 2009 (đạt giá trị 0,723, đứng vị trí 94/155 nước được xếp hạng)[1]; hiện nay chỉ số quyền năng giới (GEM) của Việt Nam đạt 0,554, đứng ở vị trí thứ 62/109 nước, thuộc nhóm nước có sự phát triển trung bình về giới. Việt Nam được đánh giá là quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua. Tuy nhiên, khoảng cách giới vẫn còn tồn tại khá lớn trong một số lĩnh vực quan trọng như: chính trị, kinh tế, lao động và việc làm, giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa, gia đình. Phụ nữ vẫn là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi hơn so với nam giới. Định kiến giới, tư tưởng “trọng nam coi thường nữ” vẫn còn tồn tại, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính gây nên tình trạng bất bình đẳng giới nói chung và đặc biệt là mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam. Tình trạng bạo lực đối với phụ nữ vẫn diễn ra khá phổ biến.v.v.

Việc xây dựng Chiến lược Bình đẳng giới có ý nghĩa quan trọng bởi bình đẳng giới không chỉ là mục tiêu của phát triển mà còn là cách thức để xóa đói, giảm nghèo bền vững và thúc đẩy tăng trưởng của quốc gia. Bình đẳng giới tạo điều kiện quản lý nhà nước có hiệu quả khi nguồn lực con người (bao gồm cả nam và nữ) được phát huy và sử dụng một cách hợp lý. Chiến lược cũng là công cụ để đưa Luật Bình đẳng giới vào cuộc sống và để hiện thực hoá các cam kết của Việt Nam đối với công đồng quốc tế trong việc thực hiện Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biêt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW) và Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ (MDG).

Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 là một bộ phận cấu thành của Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 của Việt Nam, nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bình đẳng giới trong giai đoạn 10 năm tới, đồng thời là sự tiếp tục thực hiện các mục tiêu của Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010. Trong bối cảnh kinh tế-xã hội mới của giai đoạn 2011-2020 và những tồn tại về bất bình đẳng giới hiện nay, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới cần cung cấp những quan điểm, định hướng phù hợp, làm cơ sở để xây dựng và thực hiện các chương trình, chính sách thúc đẩy bình đẳng giới ở nước ta trong 10 năm tới. Chính phủ đã giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì xây dựng Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 (theo Nghị quyết số 57/NQ-CP ngày 1/12/2009). Chiến lược này đề ra các mục tiêu, chỉ tiêu, giải pháp cho việc thực hiện bình đẳng giới trên 8 lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin, thể thao và gia đình ở Việt Nam cho giai đoạn 10 năm (2011-2020).

PHẦN I. THỰC TRẠNG BÌNH ĐẲNG GIỚI GIAI ĐOẠN 2001-2010

1. Đánh giá tổng quát vấn đề thể chế, năng lực của bộ máy quốc gia về bình đẳng giới

a. Thành tựu

- Đến nay, Việt Nam được đánh giá là đã cơ bản hoàn thiện khung chính sách, pháp luật về bình đẳng giới.

+ Để cụ thể hoá các quan điểm, mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta về bình đẳng giới, đồng thời luật hóa các quy định liên quan trong các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (tiêu biểu là CEDAW), trong 10 năm qua, hệ thống chính sách, pháp luật về bình đẳng giới của Nhà nước ta đã từng bước được hoàn thiện. Trong hầu hết các văn bản pháp luật mới được soạn thảo hoặc sửa đổi, bổ sung đều quán triệt tinh thần “cấm phân biệt đối xử với phụ nữ” và phù hợp với các nguyên tắc bình đẳng giới. Tiêu biểu như: Luật Cán bộ, công chức, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân,…Luật Bình đẳng giới được Quốc hội thông qua năm 2006 đánh dấu bước ngoặt và có tính đột phá trong sự nghiệp bình đẳng giới ở Việt Nam. Đây là văn bản luật quy định tập trung nhất các nội dung về bình đẳng giới và bảo đảm quyền của phụ nữ. Điểm nổi bật của Luật này là: lần đầu tiên hình thành nên cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới ở Việt Nam; quy định bắt buộc quy trình lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong văn bản quy phạm pháp luật và yêu cầu các cơ quan chức năng xây dựng các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới…

+ Thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, Chính phủ đã xây dựng và triển khai thực hiện các chiến lược, kế hoạch đặc thù riêng cho phụ nữ như: Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2001-2010; thực hiện lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào chiến lược, kế hoạch, các chương trình chung của quốc gia như: chiến lược toàn diện tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 2006- 2010...

- Bộ máy tổ chức thực thi bình đẳng giới ngày càng được hoàn thiện, phát triển. Nếu cách đây 10 năm, Việt Nam mới chỉ có một tổ chức phối hợp liên ngành vì sự tiến bộ của phụ nữ được thành lập từ TW tới địa phương, thì đến nay, sau khi Luật Bình đẳng giới được ban hành và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2007, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới đã được hình thành và đi vào hoạt động. Hiện nay, bộ máy quốc gia về bình đẳng giới ở Việt Nam gồm có: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam. Ngoài ra, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam và Nhóm nữ nghị sĩ Việt Nam cũng tích cực tham gia thực hiện công tác này.

- Các văn bản hướng dẫn quản lý, sử dụng kinh phí cho công tác bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ được ban hành từ năm 1997 và đã được điều chỉnh, bổ sung đáp ứng yêu cầu của từng thời kỳ. Nguồn kinh phí cho công tác bình đẳng giới đã được bố trí trong ngân sách nhà nước hàng năm và huy động từ nhiều nguồn khác.

b. Tồn tại

- Việc triển khai luật pháp, chính sách về bình đẳng giới chậm và thiếu tập trung chỉ đạo, các văn bản hướng dẫn Luật Bình đẳng giới chưa hoàn chỉnh và đồng bộ làm hạn chế khả năng thực hiện bình đẳng giới. Luật Bình đẳng giới quy định trách nhiệm của các cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, nhiều cơ quan chủ trì soạn thảo còn gặp khó khăn trong việc thực hiện quy trình, thủ tục lồng ghép giới. Cho đến này chưa có đánh giá chính thức về mức độ thực hiện quy đinh này kể từ khi Luật Bình đẳng giới có hiệu lực. Vì vậy, những nguyên nhân vướng mắc liên quan đến như sự phối hợp của các cơ quan, bộ ngành về quy trình thẩm định hay vấn đề kỹ năng…chưa được xác định một cách thấu đáo để có cơ sở khắc phục.

- Số liệu tách biệt theo giới phục vụ cho công tác nghiên cứu, xây dựng kế hoạch, lập ngân sách chưa được quan tâm đúng mức để xây dựng ở từng bộ, ngành cũng như trong cả nước.

- Một số chính sách, pháp luật chuyên ngành được ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung còn chưa tính đến yếu tố giới hoặc có một số quy định chưa phù hợp với chuẩn mực quốc tế (tuổi về hưu, …); một số quy định khó thực hiện trên thực tế (các quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của lao động nữ vô hình chung trở thành rào cản khiến phụ nữ khó/mất cơ hội có việc làm).

- Chưa có chế tài đủ mạnh đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới.

- Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2001-2010 mới tập trung đề xuất các giải pháp nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, chưa xem xét giải quyết trong mối quan hệ với bảo đảm quyền lợi của nam giới. Nhiều giải pháp được đặt ra trong Chiến lược và Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam các giai đoạn chưa được các cơ quan chức năng quan tâm thực hiện.

- Việc truyền thông rộng rãi về Luật bình đẳng giới hầu như chưa được quan tâm. Vì thế mà người dân cũng như các cơ quan ban ngành còn hiểu biết hạn chế về luật này.

- Năng lực của bộ máy quốc gia về bình đẳng giới còn nhiều hạn chế. Cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới mới được hình thành ở cấp trung ương là Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (Vụ bình đẳng giới), tại các tỉnh là Sở Lao động – Thương binh và Xã hội. Đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ đang trong quá trình ổn định, tại các tỉnh đa phần chưa có cán bộ chuyên trách; đội ngũ cán bộ vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về kiến thức, hạn chế trong kỹ năng hoạt động.

- Kinh phí chi cho công tác bình đẳng giới còn quá ít và phụ thuộc vào “sự quan tâm” của từng địa phương. Hầu hết mới chỉ tính toán được ở khoản ngân sách cấp cho một số hoạt động “bề nổi” của các Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ và một số ít cho cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới (sau khi Luật Bình đẳng giới năm 2006 ra đời).

2. Thực trạng bình đẳng giới trên các lĩnh vực

2.1. Trong lĩnh vực chính trị

a. Thành tựu:

Trong những năm qua, bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị đã được cải thiện tích cực, thể hiện rõ rệt nhất ở tỷ lệ cao hơn của phụ nữ tham gia vị trí lãnh đạo ở các cấp.

- Trong hơn thập kỷ qua, vị trí Phó Chủ tịch nước luôn là nữ. Nhiệm kỳ 2004-2009, lần đầu tiên Quốc hội có một Phó Chủ tịch Quốc hội là nữ. Trong Quốc hội, Việt Nam là một trong số ít nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội đạt trên 25%. Số đại biểu nữ giữ các trọng trách quan trọng trong các cơ quan của Quốc hội đã tăng lên. Trong khối cơ quan Đảng, Ở cấp TW, nhiệm kỳ 2005-2011, tỷ lệ nữ tham gia Ban Chấp hành TW Đảng (kể cả ủy viên dự khuyết) là 10%, tăng so với nhiệm kỳ 2001-2005 (8,6%), tỷ lệ cán bộ nữ tham gia Ban Bí thư TW Đảng là 20% (2/10 đồng chí).

- Ở địa phương, tỷ lệ nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh nhiệm kỳ 2004-2011 đạt 23,9%, cấp huyện là 23,01% và cấp xã là 19,5%. Tỷ lệ nữ tham gia cấp uỷ Đảng tăng nhẹ: Ở cấp tỉnh, tỷ lệ nữ ủy viên chiếm 11,75% so với tỷ lệ 11,3% của nhiệm kỳ trước, nữ Uỷ viên Ban thường vụ chiếm 7%, có 5 nữ bí thư Tỉnh uỷ. Ở cấp huyện và xã, tỷ lệ này lần lượt đạt 14,7% (so với 12,9%) và đạt 15,1% (so với 11,9%).

- Trong khối cơ quan hành chính nhà nước, đội ngũ cán bộ, công chức nữ tăng cả về số lượng và chất lượng. Trong nhiệm kỳ 2007-2011, tỷ lệ nữ Bộ trưởng và tương đương là 4,5%, Thứ trưởng và tương đương là 8,4%

Số lượng cán bộ, công chức nữ trong các cơ quan hành chính nhà nước từ cấp huyện tới trung ương chiếm khoảng 31%, trong đó, nữ lãnh đạo chiếm khoảng 18,4%. Ở cấp xã, nữ chiếm 16,3% trong tổng số cán bộ chuyên trách.

Ngoài ra, phụ nữ luôn bình đẳng với nam giới trong việc thực thi quyền tham gia bầu ra cơ quan lãnh đạo các cấp, tham gia xây dựng và thực hiện quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức.

b. Tồn tại:

- Tỷ lệ cán bộ quản lý, lãnh đạo nữ còn thấp so đội ngũ lao động nữ và so với yêu cầu. Cán bộ nữ là lãnh đạo đầu ngành, địa phương còn rất ít. Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội tăng không bền vững (Khóa X đạt 26,2%, khóa XI đạt 27,3% và khóa XII đạt 25,7%) và chưa đạt chỉ tiêu của Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ đến 2010 (phấn đấu đạt từ 33% trở lên).

- Trong khối cơ quan hành chính nhà nước, tỷ lệ cán bộ nữ trong nhiệm kỳ 2005-2010 giảm so với nhiệm kỳ 1999-2004, cụ thể: Ở TW, chỉ có 9/30 Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có nữ trong ban lãnh đạo. Duy nhất có 1 nữ trong số 30 Bộ trưởng và tương đương (4,5% so với 12% ở khóa 2002-2007). Có 9 nữ trong số khoảng 100 Thứ trưởng và tương đương (8,4% so với 9% khóa 2002-2007). Vụ trưởng và tương đương từ 6% giảm xuống 5,5%. Năm 2008, Việt Nam xếp thứ 89 trên tổng số 93 nước xếp hạng về có các chức danh bộ trưởng là nữ[2]. Ở cấp địa phương, cả nước hiện chỉ có duy nhất một nữ trong số 63 Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh và còn khoảng 19 tỉnh/thành không có nữ lãnh đạo chủ chốt ở cấp này[3]. Trong nhiều năm nay chưa có sự tham gia của phụ nữ vào các chức danh như Thủ tướng, Phó Thủ tướng Chính phủ và trong Bộ Chính trị. Đặc biệt, tỷ lệ cán bộ lãnh đạo nữ ở cấp xã, thôn là rất thấp. Nếu thiếu lực lượng này thì nguồn cán bộ nữ cho những vị trí cấp cao hơn trong những năm tới sẽ gặp khó khăn.

Các nghiên cứu của Bộ Nội vụ (2005), Bộ Lao động –Thương Binh- Xã hội (2009) và những cuộc đối thoại chính sách, diễn đàn, hội thảo diễn ra trong những năm vừa qua đã cho rằng, chế độ nghỉ hưu sớm hơn 5 năm đã là một trong những nguyên nhân làm cho phụ nữ ít có cơ hội được đề bạt ở những vị trí cao hơn so với nam giới. Đây là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để có giải pháp thích hợp.

Việc thiếu nguồn cán bộ nữ ở cấp cơ sở là một trong những hệ quả của cả một quá trình khi phụ nữ ít có điều kiện tham gia đào tạo, bồi dưỡng, do gánh nặng công việc gia đình và do những định kiến về năng lực quản lý của phụ nữ. Sự tham gia của phụ nữ vào các cơ quan dân cử bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác như cách hiểu chưa đúng về tỷ lệ cơ cấu đại biểu Hội đồng nhân dân theo giới tính và quan niêm về tiêu chuẩn đối với ứng cử viên[4]

2.2. Trong lĩnh vực kinh tế và lao động

a. Thành tựu:

Trong một thập kỷ qua, Việt Nam đã có những tiến bộ trong việc phát triển thị trường lao động, mở rộng cơ hội việc làm cho phụ nữ và nam giới. Khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế - lao động đã được cải thiện, phụ nữ ngày càng khẳng định được vai trò, vị trí của mình trong gia đình và xã hội. Trên toàn quốc, tỷ lệ nữ tham gia lực lượng lao động đạt 78,2% so với nam giới là 86%. Lao động nữ đóng vai trò quan trọng trong các ngành chế biến, xuất khẩu. Tỷ lệ lao động nữ cao hơn rõ rệt so với nam ở ngành dệt, may (trên 70%), , ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản (53,7%) Nữ chủ doanh nghiệp tăng nhanh. Tỷ lệ lao động nữ đi lao động và làm việc có thời hạn ở nước ngoài hàng năm chiếm 33%. Phụ nữ tham gia tích cực vào tẩt cả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, hàng ngày tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho gia đình và xã hội.

b. Tồn tại: Lao động nữ chiếm số đông trong những ngành nghề không đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật cao, có thu nhập thấp, điều kiện lao động nghèo nàn, thời gian lao động kéo dài và việc làm bấp bênh, độ rủi ro cao. Nông nghiệp hiện là nghề nghiệp chính của khoảng 1/2 lao động nam và khoảng 2/3 lao động nữ. Tỷ lệ nữ làm lao động giản đơn chiếm 53,6%, và làm trong khu vực phi nông nghiệp là 47,3%[5], trong khi chỉ có 20,2% là lãnh đạo ở các cấp, các ngành[6], Nữ chiếm một tỷ lệ lớn trong khu vực kinh tế không chính thức, trong các cơ sở kinh doanh nhỏ, lao động tại nhà, lao động làm thuê cho gia đình, lao đông di cư, làm việc trong các lĩnh vực thường chưa được pháp luật lao động điều chỉnh, không thuộc phạm vi điều tiết hệ thống bảo trợ xã hội chính thức. Tỷ lệ lao động nữ chưa qua đào tạo, đặc biệt là khu vực nông thôn, còn ở mức cao[7]. Mặc dù không có sự phân biệt về giới trong chính sách tiền lương, song thu nhập thực tế của lao động nữ chỉ bằng 74,5% so với thu nhập của lao động nam[8]. Phụ nữ ít được tiếp cận, kiểm soát các nguồn lực tài chính và kinh tế ở gia đình và cộng đồng. Tỷ lệ tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo do nữ làm chủ hộ đạt 33,9% trong khi tỷ lệ này ở hộ nghèo do nam làm chủ hộ đạt 41,8%[9]. Tác động của khủng hoảng kinh tế đã làm cho nhiều lao động nữ bị mất việc làm. Do trình độ chuyên môn, kỹ thuật thấp, phụ nữ thường ở thế bất lợi hơn so với nam giới trong tiếp cận việc làm có thu nhập cao hoặc chuyển đổi nghề nghiệp. Làm việc trong khu vực phi chính thức, lao động nữ đang găp nhiều rủi ro liên quan đến việc làm thiếu ổn định, thu nhập bấp bênh và không được hưởng bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội và các nguồn hỗ trợ chính thức[10]. Do chủ yếu làm nông nghiệp, phụ nữ sẽ đối diện với nhiều nguy cơ giảm thu nhập và mất nguồn sống trước ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và thời tiết nóng lạnh quá bất thường.

Những định kiến giới trong phân công lao động xã hội, gánh nặng công việc gia đình tiếp tục ảnh hưởng đến cơ hội việc làm và phát triển nghề nghiệp của phụ nữ. Trong khi phụ nữ đã có đóng góp quan trọng cho kinh tế gia đình thì nam giới vẫn bị trông chờ là người có trách nhiệm chính kiếm tiền nuôi gia đình.

2.3. Trong lĩnh vực giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ

a. Thành tựu: khoảng cách giới được thu hẹp đáng kể ở từng cấp học, bậc học. Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tỷ lệ đi học cấp tiểu học của cả nước hiện nay đạt rất cao, năm học 2007 - 2008, tỷ lệ này đạt 100%. Tỷ lệ nữ trí thức ngày càng tăng và đạt tỷ lệ cao nhất ở trình độ cao đẳng. Theo số liệu được công bố tại Hội thảo Khoa học nữ trí thức Việt Nam đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tỷ lệ nữ trúng tuyển vào các trường Đại học, cao đẳng trên cả nước tăng từ 45,5% năm 2004 lên 53,9% năm 2008. Trong số hơn 130 thủ khoa tốt nghiệp năm 2009 tại các trường Đại học trên địa bàn Hà Nội, có 60% thủ khoa là nữ. Trong 3 năm từ 2004 – 2007, tỷ lệ nữ giáo sư tăng từ 4,3% lên 5,1%; tỷ lệ nữ Phó Giáo sư tăng cao hơn, từ 7% lên 11,7%. Tỷ lệ nữ tiến sĩ, thạc sĩ đạt lần lượt là 17,1% và 30,5%.

b. Tồn tại: Khoảng cách giới về giáo dục-đào tạo vẫn còn đáng kể tại các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn: Phụ nữ và trẻ em gái thuộc gia đình nghèo gặp nhiều khó khăn và trở ngại hơn so với các em trai và nam giới trong việc tiếp cận với học tập; phụ nữ và trẻ em gái vẫn chiếm số đông trong số người ở độ tuổi 15 trở lên cho đến 40 trong dân số không biết đọc, biết viết.[11] Trình độ học vấn của phụ nữ so với nam giới ở bậc sau đại học có sự chênh lệch lớn: Tỷ lệ nữ trong tổng số tiến sĩ, thạc sĩ tăng nhưng không bền vững, năm 2000 tỷ lệ này lần lượt là 14,9% và 29,1%; năm 2004 tỷ lệ này tương ứng là 17,5% và 39,1% nhưng đến năm 2007 giảm còn 17,1% và 30,53%[12]. Tỷ lệ nữ trí thức làm khoa học có tăng tuy nhiên chưa tương xứng với lực lượng và tiềm năng lao động nữ của nước ta[13].

Một trong những tồn tại trong lĩnh vực giáo dục-đào tạo là định kiến giới trong hệ thống sách giáo khoa hiện nay. Các nghiên cứu của Ngân Hàng thế giới (2006) và Nghiên cứu của UNESCO (2009) về sách giáo khoa cấp tiểu học ở một số môn học như Tiếng Việt, Đạo đức, Khoa học và Xã hội, Toán học, Lịch sử và Địa lý cho thấy khuôn mẫu giới thể hiện rất rõ, đặc biệt là các nghề nghiệp và đặc điểm hoạt động thường gắn với nam và nữ. Điều này đã có ảnh hưởng rất lớn đến quan niệm về vai trò của phụ nữ/trẻ em gái và nam giới/trẻ em trai đối với cả đội ngũ giáo viên và học sinh.

2.4. Trong lĩnh vực y tế

a. Thành tựu: Bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe nhân dân luôn là một trong những trọng tâm đặc biệt của Chính phủ. Sức khỏe của bà mẹ không ngừng được cải thiện, tỷ suất chết mẹ có liên quan đến thai sản đã giảm dần qua các năm. Theo số liệu công bố của Tổng cục Thống kê, tuổi thọ bình quân của người Việt Nam hiện nay đã vượt trên 72 tuổi. Tỷ lệ phụ nữ mang thai được khám thai trên 3 lần (năm 2006) đạt 86,2%, tăng 1,9% so với năm 2005 (là 84,3%). Tỷ suất chết của các bà mẹ có liên quan đến thai sản giảm từ 85/100.000 trẻ đẻ sống năm 2004 xuống còn 75/100.000 trẻ đẻ sống năm 2009[14]. Theo báo cáo chưa đầy đủ của các địa phương, tỷ lệ phụ nữ được tiếp cận với dịch vụ y tế tăng từ 83,5% năm 2005 lên 85,3% năm 2008. Đến năm 2006, tỷ lệ các ca sinh được hỗ trợ của cán bộ y tế có tay nghề đạt khoảng 93% và tỷ lệ các bà mẹ được khám thai trong thời kỳ thai sản từ 3 lần trở lên đạt 84,5%. Nâng cao năng lực khám, chữa bệnh cho nhân dân là một trong những mục tiêu quan trọng, trong đó có mục tiêu đến năm 2010 đảm bảo 100% các trạm y tế có nữ hộ sinh; trạm y tế xã, phường có bác sĩ đạt 80%...

b. Tồn tại:

Vấn đề tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số còn hạn chế; thiếu hệ thống chăm sóc sức khỏe cho nam giới; nhận thức của cả nam và nữ về chăm sóc sức khỏe sinh sản còn bất cập là ba vấn đề tồn tại cơ bản.

Thư nhất, tỷ suất tử vong mẹ còn cao, gấp 2 lần so với một số nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore, Malayxia, gấp 4 lần so với Hàn Quốc. Mức giảm tỷ suất chết mẹ trong 10 năm gần đây còn chậm và chưa nhiều, nhất là ở vùng sâu, vùng xa và vùng dân tộc thiểu số. Việc tuyên truyền về chăm sóc sức khỏe sinh sản đã có nhiều tiến bộ song vẫn còn một bộ phận nhỏ các bà mẹ vùng dân tộc thiểu số không đi khám thai, tự đẻ tại nhà hoặc trong rừng. Rất nhiều địa phương đã không đánh giá được tỷ suất chết mẹ liên quan đến thai sản. Thực tế thống kê y tế cho thấy số phụ nữ mắc và chết do 5 bệnh tai biến sản khoa vẫn có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây, gây khó khăn trong việc giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ. Tỷ lệ nữ trong số nhiễm HIV thấp hơn nam giới nhưng lại có xu thế tăng dần[15]. Tỷ lệ nạo phá thai ở nước ta ở mức cao, trong đó nạo phá thai ở tuổi vị thành niên chiếm một tỷ lệ đáng kể và có xu hướng tăng lên.[16]

Thứ hai, còn thiếu các trung tâm chăm sóc sức khỏe cho nam giới. Tỷ lệ nam giới thực hiện các biện pháp tránh thai an toàn còn chưa cao. Năng lực thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản hoặc kế hoạch hóa gia đinhg như đội ngũ bác sỹ có chuyên môn về sức khỏe sinh sản hoặc kế hoạch hóa gia đinhg từ Trung ương tới cơ sở; mạng lưới tư vấn về giới và chăm sóc sức khỏe sinh sản cũng như đội ngũ bác sỹ chăm sóc sức khỏe nam giới còn hạn chế.

Thứ ba, nhận thức, hành vi của cả nam giới và nữ giới về chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình còn chưa đầy đủ. Điều này đang tạo nên tình trạng mất cân bằng giới tính (khi sinh). Tại các cơ sở y tế cũng chưa có hệ thống sàng lọc nạn nhân của bạo lực giới và các nguyên nhân của nó theo quy định của Bộ Y tế, nhằm giúp xác định tác động của bạo lực giới đến sức khỏe phụ nữ.

2.5. Trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể thao, gia đình và bạo lực trên cơ sở giới đối với phụ nữ và trẻ em gái

a. Thành tựu: Trong văn hóa, thông tin, thể thao: Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật đã có những đổi mới, cải tiến về nội dung, chất lượng nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu thưởng thức của mỗi giới, đặc biệt bên cạnh nhiều chương trình truyền hình dành riêng cho phụ nữ như “Sức sống mới”, “Phụ nữ và cuộc sống”, cũng đã xuất hiện những chương trình giành cho nam giới như chương trình “Dành cho đàn ông” của O2 TV. Định kiến giới về vai trò truyền thống của phụ nữ và nam giới trong gia đình và xã hội đã có sự thay đổi tích cực so với trước đây. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, hình ảnh người phụ nữ tự tin vươn lên, khẳng định mình trong công việc xuất hiện ngày càng nhiều; nhiều bài viết, hình ảnh quảng cáo đã thể hiện vai trò của nam giới trong chia sẻ việc nhà. Phụ nữ đã tham gia hầu hết các bộ môn thi đấu trong nền thể thao nước nhà và đạt nhiều thành tích nổi bật, trong đó phải kể tới bộ môn bóng đá.

Trong gia đình, vị trí, vai trò của phụ nữ đã được cải thiện so với trước đây, đặc biệt là phụ nữ ở thành thị. Người phụ nữ được tôn trọng và được tham gia nhiều hơn vào các quyết định quan trọng trong gia đình. Tỷ lệ phụ nữ thực hiện các hoạt động văn hóa, thể thao, vui chơi, giải trí trong thời gian rỗi ngày càng cao và ở một số loại hình như xem tivi, nghe đài là tương đương với nam giới. Những người phụ nữ ngày càng nhận thức rõ hơn và tham gia tích cực vào việc phòng chống bạo lực gia đình trên cơ sở giới.

b. Tồn tại: Tư tưởng và quan niệm của một bộ phận không nhỏ nhân dân còn bị ràng buộc khá nặng nề bởi những khuôn mẫu về giới: Phụ nữ vẫn được coi là người đảm nhận chính các công việc nội trợ, chăm sóc gia đình, nam giới được gia đình và xã hội kỳ vọng phải trở thành người thành đạt, bảo đảm kinh tế của gia đình và thường bị kỳ thị khi làm những công việc được cho là chỉ dành cho phụ nữ (nội trợ, giáo viên mầm non và cấp tiểu học, y tá...).[17]. Đặc biệt, định kiến giới còn tồn tại rõ nét trong một số phong tục, tập quán của các dân tộc thiểu số. Các sản phẩm truyền thông có định kiến giới còn được đăng tải và phát sóng rộng rãi. Vai trò định hướng cộng đồng chuyển đổi những định kiến giới không phù hợp chưa được các cơ quan thông tin đại chúng chú ý phát huy. Tâm lý thích con trai còn tồn tại nặng nề là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tỷ số giới tính khi sinh trên toàn quốc đang vượt mức cho phép là 110,5 nam/100 nữ. Tỷ lệ này đặc biệt cao ở một số tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng như: Hưng Yên 130,7 nam/100 nữ, Hải Dương 120,2 nam/100 nữ, Bắc Ninh 119,4 nam/100 nữ[18]… Sự quan tâm, ủng hộ của gia đình và xã hội đối với phụ nữ trong các hoạt động thể thao còn hạn chế.

Trong cuộc sống gia đình, mặc dù người vợ đã tham gia ngày càng nhiều hơn vào hoạt động lao động, sản xuất tạo thu nhập, nhưng nhiều người chồng chưa sẵn sàng chia sẻ công việc nhà, trong khi đó các dịch vụ hỗ trợ công việc gia đình còn thiếu và chưa phù hợp với số đông phụ nữ. Phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn vào các quyết định trong gia đình, song nam giới vẫn là người ra các quyết định chính. Bạo lực gia đình đối với phụ nữ vẫn diễn ra khá phổ biến, đặc biệt ở khu vực nông thôn.[19]. Bạo lực gia đình đang trực tiếp gây ra những tổn thất khôn lường cả về vật chất và tinh thần cho nạn nhân, gia đình họ và cộng đồng. Bạo lực gia đình cũng gây ảnh hưởng xấu tới sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương và đất nước (như tăng tình trạng bệnh tật và tự tử, mất khả năng tham gia sản xuất, ảnh hưởng đến đạo đức xã hội...). Tình trạng buôn bán phụ nữ còn diễn biến phức tạp ở một số địa bàn trọng điểm gần khu vực biên giới[20]. Tình trạng quấy rối, lạm dụng tình dục, bạo lực tình dục đối với trẻ em gái cũng ngày càng đa dạng, phức tạp và gây nhiều mối lo âu cho xã hội.[21]

Nhìn chung, trong 10 năm qua, chúng ta đã vượt qua những khó khăn, thách thức để đạt được những kết quả quan trọng đối với mục tiêu bình đẳng giới. Đây sẽ là tiền đề quan trọng để chúng ta tiếp tục thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam trong 10 năm tới, giai đoạn 2011-2020. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đó, bất bình đẳng giới trên các lĩnh vực vẫn còn tồn tại mà sự thiệt thòi chủ yếu thuộc về phụ nữ; hệ thống luật pháp, chính sách về bình đẳng giới được coi là khá hoàn chỉnh nhưng chưa được thực hiện hiệu quả trên thực tế; bộ máy các cấp về bình đẳng giới và tiến bộ phụ nữ đã được hình thành nhưng chưa ổn định và hiệu quả hoạt động còn thấp....

3. Nguyên nhân của những tồn tại

- Những định kiến và chuẩn mực cũ xuất phát từ tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, tồn tại lâu dài trong ý thức và quan niệm xã hội, là trở ngại đối với việc thay đổi thái độ và hành vi của cán bộ và người dân, của phụ nữ và nam giới.

- Một bộ phận phụ nữ chưa vượt qua được những trở ngại do quan niệm và chuẩn mực xã hội đặt ra, chưa hoàn toàn tự tin, chủ động tham gia vào việc ra quyết định ở gia đình và cộng đồng.

- Không ít nam giới chưa sẵn sàng khuyến khích và tạo điều kiện cho những người phụ nữ trong gia đình học tập, tiến bộ, nam giới còn ngần ngại, chưa chủ động tham gia, chia sẻ việc gia đình.

- Những hạn chế về hệ thống chính sách, pháp luật và tổ chức, bộ máy hoạt động trong lĩnh vực bình đẳng giới như đã nêu ở các phần trên. Sự cam kết chính trị của nhiều tổ chức Đảng, cơ quan chính quyền và đoàn thể xã hội đối với vấn đề bình đẳng giới chưa cao. Cơ chế phối hợp liên ngành trong thực hiện bình đẳng giới còn nhiều hạn chế. Công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá của các cơ quan chức năng trong công tác này còn chưa thực sự hiệu quả.

- Về cơ bản nước ta vẫn dựa vào sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, nhiều vùng còn chậm phát triển, cuộc sống khó khăn khiến người dân chưa coi vấn đề bình đẳng giới là quan trọng. Thiếu các dịch vụ cơ bản và dịch vụ hỗ trợ gia đình;

- Truyền thông chưa thực sự phát huy thế mạnh của mình trong việc làm thay đổi nhận thức và hành vi của người dân đối với vấn đề bình đẳng giới. Một bộ phận các sản phẩm truyền thông còn tiếp tục góp phần bảo lưu các định kiến giới.

4. Bài học kinh nghiệm

Từ thực tiễn triển khai công tác bình đẳng giới trong 10 năm qua, cụ thể là việc thực hiện Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ giai đoạn 2001-2010 và việc thực hiện Luật Bình đẳng giới từ năm 2007, có thể rút ra một số bài học chủ yếu sau:

- Một là, nhận thức đúng đắn và sự cam kết mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị trong thực hiện bình đẳng giới là yếu tố quyết định. Thực hiện hiệu quả việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật; xây dựng và thực hiện chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới là yếu tố then chốt.

- Hai là, thái độ tích cực và trách nhiệm cao của cán bộ lãnh đạo các ngành, các cấp là tiền đề cơ bản thúc đẩy chất lượng, hiệu quả công tác bình đẳng giới. Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về bình đẳng giới có ý nghĩa rất quan trọng và cần được tiếp tục tăng cường.

- Ba là, tăng cường năng lực của tổ chức, bộ máy và cán bộ quản lý nhà nước về bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ là yếu tố nền tảng; nhất là, xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp vừa có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, vừa tâm huyết với công tác bình đẳng giới. Cơ chế phối hợp liên ngành có hiệu quả có ý nghĩa quan trọng bảo đảm công tác bình đẳng giới đạt kết quả tốt. Tăng cường năng lực cho bộ máy quốc gia về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ và lập ngân sách có tính đến các quan hệ giới là điều kiện thiết yếu để thực hiện nhiệm vụ bình đẳng giới.

- Bốn là, hoạt động bình đẳng giới cần được thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, quan tâm nhiều hơn cho địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số - nơi tồn tại rõ nét nhất tình trạng bất bình đẳng giới.

- Năm là, Chất lượng hệ thống cơ sở dữ liệu về bình đẳng giới và tiến bộ phụ nữ là yếu tố quan trọng cung cấp luận cứ đáng tin cậy cho công tác hoạch định và thực thi chính sách bình đẳng giới.

- Sáu là, công tác tham mưu, chỉ đạo, đôn đốc và kiểm tra công tác bình đẳng giới một cách thường xuyên giúp cho việc nắm bắt tình hình tốt hơn và kịp thời đề xuất các giải pháp giải quyết những vấn đề giới nổi cộm, qua đó nâng cao trách nhiệm của các ngành, các cấp trong việc thúc đẩy bình đẳng giới.

- Bảy là, tăng cường hợp tác quốc tế về bình đẳng giới và tranh thủ sự hỗ trợ về kỹ thuật, thông tin, tài chính là cần thiết nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu bình đẳng giới.

Số lượt đọc:  517  -  Cập nhật lần cuối:  23/07/2010 05:57:16 AM
Bài mới:  
Bài đã đăng:
Các bài được đọc nhiều nhất
23/11/2009 12:49' PM
Tham quan trại nuôi gà và nuôi giun tại xã Xuân Lũng
26/11/2006 01:19' AM
Tài liệu về Chương trình 135 Giai đoạn 2 (2006-2010)
14/09/2009 03:52' PM
Kỹ thuật chăn nuôi thỏ quy mô hộ gia đình tại Phú Thọ
08/04/2009 05:33' AM
Vai trò giới trong phân công lao động gia đình ở Việt Nam qua những biến động xã hội
16/07/2006 09:01' AM
Kỹ thuật Trồng và Chăm sóc Tre Bát độ để lấy Măng
14/09/2009 10:06' PM
Kỹ thuật trồng nấm mèo
21/02/2008 09:24' AM
Hướng dẫn lập và sử dụng trang web qua My.opera.com
15/06/2010 08:40' PM
Mẹo sử dụng và cài đặt font tiếng Việt cho SPSS 15 và 16
11/03/2009 05:51' AM
Chia sẻ kỹ thuật chăm sóc heo nái khi sanh sản và hậu sanh sản
24/06/2006 08:54' AM
Viết Thu hoạch sau Cuộc Tham quan Học tập
Đăng ký nhận tin thư
Họ và tên:
Email:
Tổng số lượt truy cập: 5.486.338
Số người trực tuyến: 18

©2004 Bản quyền Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn - RDSC
Số 2 nhà D, 45/39 Hào Nam, Đống Đa, Hà Nội,Việt Nam
Email: rdsc@netnam.vn - Phone: +84-4-3-512 1175 - Fax: +84-4-3-512 1175
Website được xây dựng trên Công nghệ ViePortal của Hanoi Software JSC