RDSCVN
Đang tải dữ liệu...

Giới thiệu RDSC    |    Tin tức sự kiện    |    Diễn đàn    |    IDMA    |    Video    |    Âm thanh    |    Gallery    |    Slide show

Trưng cầu ý kiến
Dành cho các anh/chị kế toán.
Trong thực tế, Anh/chị dùng phần mềm kế toán chuyên dụng chủ yếu để làm việc gì? Không chọn quá 3 phương án.
 
Hỗ trợ trực tuyến

Nghiên cứu và tư vấn
Kêu gọi góp ý

Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng Giới tới năm 2020 (Dự thảo, Phần 2)

PHẦN II. NỘI DUNG CỦA CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA

VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI GIAI ĐOẠN 2011 - 2020

1. Bối cảnh quốc tế và trong nước

1.1. Thuận lợi

Thế giới và khu vực:

- Các văn bản quốc tế với các nguyên tắc pháp lý về bình đẳng giới và tiến bộ phụ nữ ngày càng được nhiều quốc gia thừa nhận và triển khai thực hiện. Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) của Liên hợp quốc đã được 186 quốc gia tham gia ký kết, phê chuẩn rộng rãi. Mục tiêu thiên niên kỷ, Tuyên bố và Cương lĩnh hành động Bắc Kinh đến 2015 được hầu hết các quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã cam kết thực hiện. Khung luật pháp, chính sách về bình đẳng giới ở nhiều nước được xây dựng, hoàn thiện. Hiện nay, có 120 quốc gia đã và đang xây dựng, thực hiện chiến lược, chương trình, kế hoạch hành động vì sự tiến bộ phụ nữ hoặc bình đẳng giới.

- Trên phạm vi toàn cầu, bình đẳng giới đã đạt được những thành tựu đáng kể. Tỷ lệ phụ nữ tham gia vào lĩnh vực ra quyết định ngày càng tăng. Năm 2009, trên thế giới, phụ nữ chiếm 18,8% tổng số nghị sĩ so với 11,3% năm 1999. Hiện có 24 quốc gia có tỷ lệ nữ nghị sĩ trên 30%. Cơ chế quy định số lượng các vị trí lãnh đạo dành cho nữ đã được xây dựng và áp dụng ở nhiều quốc gia. Hệ thống an sinh xã hội được cải thiện trong đó quy định chế độ nghỉ ốm và nghỉ thai sản được hưởng nguyên lương. Việc tiếp cận giáo dục của trẻ em gái toàn cầu ở các cấp học đã tăng lên, đặc biệt là ở cấp tiểu học.

- Cơ quan làm về bình đẳng giới của Liên hợp quốc mới được củng cố và phát triển. Bộ máy quốc gia về bình đẳng giới và phụ nữ được thành lập ở 165 quốc gia thành viên Liên hợp quốc.

- Trong khu vực Châu Á - Thái Bình dương, công tác bình đẳng giới cũng được nhiều quốc gia quan tâm. Trong khu vực ASEAN, thừa nhận sự cần thiết của việc bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em, tháng 4/2010, tại Việt Nam, Ủy ban về bảo vệ và thúc đẩy quyền của phụ nữ đã chính thức được công bố thành lập. Điều này cho thấy việc thực hiện các điều ước quốc về bình đẳng giới và bảo đảm quyền của phụ nữ sẽ được thúc đẩy mạnh hơn.

- Các tổ chức quốc tế mong muốn song hành cùng Chính phủ Việt Nam trong xây dựng và triển khai các hoạt động về bình đẳng giới trong giai đoạn 10 năm tới.

Trong nước:

- Nhận thức của cả hệ thống chính trị về bình đẳng giới ngày càng được tăng cường. Bình đẳng giới được nhận thức không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực của công cuộc đổi mới.

- Hệ thống chính sách, tổ chức bộ máy thực hiện bình đẳng giới ngày càng được hoàn thiện.

- Việc thực hiện thành công chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo, chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội làm cho vấn đề xã hội được giải quyết tốt hơn. Sự tham gia của cộng đồng vào các vấn đề xã hội theo tinh thần xã hội hóa được mở rộng hơn. Tăng trưởng kinh tế giúp việc bảo đảm bình đẳng giới được thực hiện thuận lợi hơn.

- Các sáng kiến về thực hiện bình đẳng giới ngày càng phong phú, được tổng kết, đúc rút và vận dụng trong thực tế.

1.2 Khó khăn

Quốc tế và khu vực:

- Biến động về tăng trưởng kinh tế cùng với những tác động tiêu cực của suy thoái kinh tế thế giới ít nhiều ảnh hưởng đến công tác bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ ở các nước, trong đó có Việt Nam.

- Khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu, khủng hoảng lương thực và dầu lửa đã và đang làm trầm trọng thêm những thách thức đối với phụ nữ.

- Biến đổi khí hậu, đại dịch HIV và các dịch bệnh khác đã có những tác động tiêu cực tới cuộc sống của người dân nói chung và tới phụ nữ, trẻ em gái nói riêng. Nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em, bạo lực gia đình đối với phụ nữ ngày càng diễn biến phức tạp.

Trong nước

- Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, những rủi ro xã hội do cải cách thể chế, những bất cập của nền kinh tế thị trường có thể ảnh hưởng đến mọi người song phần lớn những tác động tiêu cực này rơi vào những nhóm yếu thế trong xã hội, trong đó có phụ nữ.

- Kết quả thực hiện bình đẳng giới chưa đồng đều giữa các vùng, đặc biệt là bất bình đẳng giới tồn tại khá rõ nét ở các vùng nông thôn, vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

- Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi nhóm các nước chậm phát triển, những yếu kém của nền kinh tế chậm được khắc phục, nhiều vấn đề xã hội chưa được giải quyết triệt để.

- Nhận thức của một số bộ phận cán bộ, nhân dân về bình đẳng giới còn hạn chế. Thiếu sự phối hợp chặt chẽ của các bộ phận trong hệ thống chính trị đấu tranh cho bình đẳng giới.

2. Quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ chiến lược về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020

2.1. Quan điểm thực hiện bình đẳng giới

- Bình đẳng giới là chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội, phát triển nguồn nhân lực. Thực hiện tốt chiến lược quốc gia về bình đẳng giới, tạo cơ hội, điều kiện cho cả nam giới và phụ nữ tiếp cận bình đẳng các nguồn lực phát triển sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xây dựng xã hội ổn định và đồng thuận, phát triển bền vững đất nước.

- Từng bước đảm bảo trên thực tế bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, xóa bỏ định kiến giới; giải phóng và phát huy tối đa tiềm năng của con người trên cơ sở tạo cơ hội như nhau giữa nam và nữ tham gia vào quá trình phát triển; thực hiện công bằng xã hội giữa nam và nữ trong hưởng thụ các thành quả phát triển, nhất là trong phân phối thu nhập lần đầu và phân phối lại thông qua chính sách xã hội, phúc lợi xã hội, an sinh xã hội...

- Tập trung nguồn lực và sự chỉ đạo thực hiện bình đẳng giới trong những ngành, vùng, khu vực có hoặc có nguy cơ bất bình đẳng giới cao; giải quyết những vấn đề cấp bách về bất bình đẳng giới, nhất là trong quan hệ lao động, quan hệ gia đình, ở vùng nông thôn, vùng nghèo, vùng miền núi còn nhiều tập tục lạc hậu, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số.

- Thực hiện bình đẳng giới là cam kết và trách nhiệm cao của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị. Trong đó, cần tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng; vai trò điều hành của chính quyền các cấp, đồng thời mở rộng sự tham gia của các tổ chức xã hội, phát huy vai trò và trách nhiệm của cá nhân, hộ gia đình, người lao động, doanh nghiệp và cộng đồng trong việc tổ chức thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới.

- Mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bình đẳng giới, nhất là đổi mới cách tiếp cận bình đẳng giới phù hợp với nền kinh tế thị trường và thông lệ quốc tế; thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về bình đẳng giới; tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế đa phương, song phương và phi chính phủ về kỹ thuật, đào tạo cán bộ, tài chính để có thêm nguồn lực cho công tác bình đẳng giới.

2.2 Những vấn đề ưu tiên trong Chiến lược

Những phân tích ở trên cho thấy, khoảng cách giới còn tồn tại trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, ở tất cả các cấp, các ngành. Đồng thời, cũng dễ nhận thấy, bất bình đẳng giới vẫn nghiêng chủ yếu về phụ nữ. Đây chính là lý do giải thích vì sao mặc dù Chiến lược được xây dựng từ góc độ tiếp cận giới và phát triển, song nhiều vấn đề cấp bách cần giải quyết trong Chiến lược vẫn đặt trọng tâm vào phụ nữ.

Việc xác định các vấn đề ưu tiên trong Chiến lược có ý nghĩa hết sức quan trọng để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả thực hiện Chiến lược, nhất là trong bối cảnh hạn chế về nguồn lực. Những vấn đề ưu tiên phải thể hiện khoảng cách giới lớn hơn, đồng thời phản ánh các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội theo quy định của Luật Bình đẳng giới. Chiến lược đặt trọng tâm ưu tiên vào các vấn đề cụ thể sau đây:

Thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị: Bình đẳng giới trong chính trị là thước đo quan trọng và cao nhất về mức độ bình đẳng giới. Đây chính là lĩnh vực có khoảng cách giới rất lớn so với các lĩnh vực khác. Chiến lược nhằm thu hút sự tham gia nhiều hơn của phụ nữ trong chính trị, trong hoach định và thực thi chính sách nhằm đảm bảo rằng các chính sách được ban hành có tính đến quan điểm, kinh nghiệm của cả phụ nữ và nam giới, do vậy, chính sách sẽ đáp ứng tốt hơn nhu cầu của phụ nữ và nam giới. Sự tham gia bình đẳng của cả hai giới trong chính trị cũng sẽ tạo đà tốt hơn cho việc lồng ghép giới trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách.

Giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, việc làm, tập trung vào nhóm phụ nữ nghèo nông thôn và dân tộc thiểu số. Khoảng cách về giới trong lĩnh vực kinh tế là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến vị thế không bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới. Tạo việc làm, có thu nhập ổn định là tiền đề quan trọng để xác lập sự độc lập về kinh tế. Trong khi ở khu vực công, việc làm và thu nhập của phụ nữ đã có những cải thiện đáng kể thì phụ nữ nông thôn và phụ nữ dân tộc thiểu số vẫn đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong tìm kiếm việc làm mới và việc làm có thu nhập ổn định.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và từng bước xóa bỏ khoảng cách giới trong giáo dục: Các nghiên cứu đã chỉ ra khoảng cách giới trong giáo dục được thể hiện rõ nhất trong nhóm dân tộc thiểu số, và đối với nhóm người có trình độ sau đại học. Giải quyết vấn đề này sẽ tạo động lực quan trọng trọng việc thúc đẩy xóa đói giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số; góp phần thực hiện Mục tiêu 2 về giáo dục trong Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ. Đồng thời, nâng cao tỷ lệ phụ nữ có trình độ sau đại học sẽ cải thiện nguồn nhân lực có chất lượng cao.

Bảo đảm bình đẳng giới trong tiếp cận các dịch vụ y tế: Mặc dù đã có những cải thiện, nhưng vấn đề tiếp cận với các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe bà mẹ, trẻ em ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số luôn là thách thức trong nhiều năm qua. Đây cũng là lĩnh vực có khoảng cách rất lớn so với vùng đông bằng và đô thị. Việc giải quyết tốt vấn đề này sẽ góp phần quan trọng vào việc thực hiện Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ (Mục tiêu 5 về tăng cường sức khỏe bà mẹ).

Bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể thao: Đây là một lĩnh vực từ trước đến nay chưa được chú trọng một cách thỏa đáng. Một trong những vấn đề nổi cộm từ góc nhìn của văn hóa và thông tin là các sản phẩm truyền thống mang định kiến giới có tác động mạnh đến nhận thức của công chúng về vai trò của phụ nữ và nam giới. Hầu hết các nghiên cứu giới đã chỉ ra rằng, nguyên nhân đầu tiên dẫn đến những khoảng cách giới có nguồn gốc từ nhận thức và quan niệm của người dân. Do vậy, nâng cao nhận thức, thay đổi quan niệm truyền thống mang định kiến giới sẽ là điểm khởi đầu quan trọng trong việc giải quyết vấn đề bất bình đẳng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình, từng bước xóa bỏ bạo lực trên cơ sở giới: Bất bình đẳng giới trong gia đình có mối liên quan chặt chẽ với vấn đề văn hóa. Thúc đẩy bình đẳng giới trong gia đình là tiền đề, điều kiện quan trọng để thúc đẩy bình đẳng giới trong toàn xã hội. Bạo lực gia đình, trong đó đặc biệt là bạo lực trên cơ sở giới trong gia đình là vấn đề gây nhiều bức xúc trong dư luận xã hội trong những năm gần đây, mà bằng chứng là sự ra đời của Luật Phòng chống bạo lực trong gia đình năm 2007. Do vậy, Chiến lược xác định đây là một trong những ưu tiên cần được giải quyết trong thời gian tới

Nâng cao năng lực quản nhà nước về bình đẳng giới: Như đã được đề cập ở trên, hiện nay Cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới vừa thiếu, vừa hạn chế về năng lực do bộ máy mới được hình thành. Việc nâng cao năng lực cho bộ máy và thể chế đóng vai trò thiết yếu trong việc thực hiện Chiến lược.

2.2. Mục tiêu

a. Mục tiêu tổng quát

Đến năm 2020 về cơ bản đảm bảo cơ hội tham gia và hưởng lợi một cách bình đẳng cho phụ nữ và nam giới vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó tâp trung phấn đấu thu hẹp khoảng cách giới trong một số lĩnh vực chủ yếu và giải quyết các vấn đề giới nổi cộm trong từng thời kỳ.

b. Mục tiêu cụ thể

1. Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị[1]

Chỉ tiêu 1: Tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp uỷ đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đạt từ 35% trở lên.

Chỉ tiêu 2: 100% Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ[2], Ủy ban nhân dân các cấp có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ.

Chỉ tiêu 3: Các cơ quan, đơn vị thuộc tổ chức đảng, chính quyền, tổ chức chính trị xã hội có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ.

2. Giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động. Tăng cường sự tiếp cận của PN nghèo nông thôn và phụ nữ dân tộc thiểu số với các nguồn lực kinh tế và thị trường lao động

Chỉ tiêu 1: Đảm bảo cân bằng nam-nữ trong tổng số người được tạo việc làm mới hàng năm[3].

Chỉ tiêu 2: Đảm bảo 50% lực lượng lao động nữ nông thôn dưới 45 tuổi được đào tạo nghề và chuyên môn kỹ thuật[4]. Tăng tỷ lệ phụ nữ dân tộc thiểu số được hỗ trợ đào tạo nghề theo chính sách của nhà nước.

Chỉ tiêu 3: Tăng tỷ lệ phụ nữ nghèo nông thôn, phụ nữ dân tộc thiểu số thực sự là người quyết định thực hiện các kế hoạch vay vốn ưu đãi từ các chương trình, chính sách việc làm và giảm nghèo[5].

3. Đảm bảo sự tham gia bình đẳng của phụ nữ với nam giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ

Chỉ tiêu 1: Phổ cập biết chữ cho 100% nam giới và phụ nữ ở độ tuổi từ 15 đến 40 tuổi ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn.

Chỉ tiêu 2: Giảm 90% khoảng cách giới so với năm 2010 về tỷ lệ học vấn cấp trung học cơ sở ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng đặc biệt khó khăn.

Chỉ tiêu 3: Tỷ lệ nữ thạc sỹ đạt 50%, tỷ lệ nữ tiến sỹ đạt 25% trong tổng số những người có các học vị này.

Chỉ tiêu 4: Không còn các hình ảnh và thông điệp mang tính định kiến giới trong sách giáo khoa.

4. Bảo đảm bình đẳng giới trong tiếp cận các dịch vụ y tế

Chỉ tiêu 1: Tỷ suất tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản dưới 55/100.000 trẻ đẻ sống.

Chỉ tiêu 2: Tỷ lệ phụ nữ được khám thai trong thời kỳ thai sản từ 3 lần trở lên đạt hơn 95%.

Chỉ tiêu 3: Tỷ lệ phụ nữ mang thai trong toàn quốc bị nhiễm HIV/AIDS thấp hơn 0,2%.

Chỉ tiêu 4: Tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên ít hơn 5% trong tông số ca nạo thai.

Chỉ tiêu 5: Mức độ chênh lệch giới tính khi sinh khoảng 107/100, đặc biệt là ở các vùng có chênh lệch cao.??????

Chỉ tiêu 6: Bệnh viện đa khoa cấp cấp tỉnh trở lên có bác sỹ chuyên khoa nam học.

5. Bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể thao

Chỉ tiêu 1: Bảo đảm việc tiếp cận và hưởng thụ bình đẳng nhu cầu thưởng thức văn hóa, tiếp nhận thông tin giữa nam và nữ.

Chỉ tiêu 2: Tăng cường sự hỗ trợ xã hội đối với sự tham gia và đóng góp của phụ nữ vào các lĩnh vực thể thao.

Chỉ tiêu 3: Giảm 80% các sản phẩm truyền thông mang tính định kiến giới so với năm 2010 và tăng thời lượng các sản phẩm truyền thông cổ vũ cho quan niệm bình đẳng giới.

6. Bảo đảm bình đẳng giới trong đời sống gia đình, từng bước xóa bỏ bạo lực trên cơ sở giới

Chỉ tiêu 1: Tăng 50% tỷ lệ phụ nữ tham gia các quyết định quan trọng trong gia đình.[6]

Chỉ tiêu 2: Giảm 50% tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực gia đình đối với một số hành vi bạo lực gia đình cơ bản như đánh, mắng chửi và ép buộc quan hệ tình dục.[7]

Chỉ tiêu 3: 50% số nạn nhân bạo lực gia đình được tư vấn về pháp lý, sức khỏe, được hỗ trợ và chăm sóc tại các cơ sở mở rộng, 85% số người gây bạo lực gia đình được tư vấn tại các cơ sở tư vấn về phòng chống bạo lực gia đình[8].

Chỉ tiêu 4: Giảm 50% tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em trên phạm vi toàn quốc, giảm 20% tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em tại địa bàn trọng điểm; 60% phụ nữ và trẻ em gái bị buôn bán đã phát hiện được chữa trị và dạy nghề[9].

7. Nâng cao năng lực quản nhà nước về bình đẳng giới

Chỉ tiêu 1: Các văn bản quy phạm pháp luật ban hành mới thực hiện đúng quy trình lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, trong đó có việc phân tích tác động của các văn bản này đối với phụ nữ và nam giới.

Chỉ tiêu 2: Bộ chỉ số giám sát, đánh giá thực hiện Luật Bình đẳng giới được áp dụng.

Chỉ tiêu 3: 100% cán bộ làm công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ ở các cấp, ngành được đào tạo về nghiệp vụ.

Chỉ tiêu 4: 100% cán bộ làm chính sách ở các Bộ ngành, địa phương được tập huấn kiến thức giới, kỹ năng phân tích giới và lồng ghép giới.

2.3 Các đột phá chiến lược

- Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức bình đẳng giới trong đội ngũ cán bộ, công chức và nhân dân. Đề cao trách nhiệm của cấp ủy và người đứng đầu cơ quan, tổ chức về công tác bình đẳng giới.

- Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào các chính sách, pháp luật, chiến lược, chương trình của các ngành, địa phương.

- Đào tạo nguồn nhân lực nữ có chất lượng cao.

- Bố trí ngân sách giới một cách tương xứng.

- Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về bình đẳng giới, khuyến khích xã hội hóa các dịch vụ hỗ trợ, thúc đẩy bình đẳng giới.

3. Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu

3.1. Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bình đẳng giới, thực hiện lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong các chính sách, pháp luật, chương trình, chiến lược

- Rà soát, đánh giá, điều chỉnh, bổ sung việc bảo đảm bình đẳng giới trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các chính sách của Nhà nước.

- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về công tác bình đẳng giới ở các Bộ ngành, địa phương; kịp thời phát hiện và xử lý những vi phạm pháp luật về bình đẳng giới.

- Tập trung xây dựng và thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trên các lĩnh vực còn tồn tại bất bình đẳng giới sâu sắc đối với phụ nữ.

- Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào quá trình hoạch định, thực thi và giám sát, đánh giá các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các ngành, các cấp.

3.2. Đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức về bình đẳng giới trong đội ngũ cán bộ, công chức và nhân dân

- Xây dựng và thực hiện các chương trình truyền thông về bình đẳng giới có nội dung và hình thức tuyên truyền phù hợp với từng nhóm đối tượng trong xã hội (phụ nữ, nam giới, lãnh đạo, công chức, viên chức, đội ngũ giáo viên và cơ quan thông tấn báo chí, người dân,…) và từng khu vực (nông thôn, thành thị...), đặc biệt lưu ý đến các nhóm dân cư ở vùng sâu, vùng xa. Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về bình đẳng giới.

- Xây dựng chuyên trang, chuyên mục bình đẳng giới trong các tờ báo, chương trình truyền thông của các cơ quan thông tấn, báo chí trên cả nước.

- Nâng cao nhận thức về giới, bình đẳng giới cho cán bộ, phóng viên báo chí để góp phần giám sát việc thực hiện pháp luật bình đẳng giới và tuyên truyền những kiến thức, kinh nghiệm, điển hình tiến tiến về bình đẳng giới, đảm bảo các sản phẩm truyền thông không bị định kiến giới.

- Xây dựng và đào tạo mạng lưới phóng viên. Có quy chế ngăn chặn các sản phẩm truyền thông mang tính định kiến giới.

- Đưa nội dung giáo dục về bình đẳng giới vào giảng dạy trong hệ thống giáo dục quốc dân.

- Xây dựng và phát triển đội ngũ tuyên truyền viên và báo cáo viên về bình đẳng giới tại cộng đồng.

3.3. Xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới nhằm hỗ trợ các Bộ ngành, địa phương giải quyết những vấn đề giới cấp bách.

Chương trình mục tiêu quốc gia bao gồm các dự án sau:

- Dự án truyền thông nâng cao nhận thức về bình đẳng giới.

- Dự án đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ.

- Dự án hỗ trợ xúc tiến việc lồng ghép giới trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật và các chiến lược, chương trình quốc gia.

- Dự án nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ nữ trong diện quy hoạch vào các vị trí lãnh đạo, quản lý các cấp

- Dự án hỗ trợ thực hiện bình đẳng giới ở những lĩnh vực, ngành và vùng, địa phương có bất bình đẳng giới hoặc có nguy cơ bất bình đẳng giới cao

- Dự án hỗ trợ tạo lập sinh kế bền vững cho phụ nữ nghèo

- Dự án hỗ trợ phòng ngừa và khắc phục hậu quả của bạo lực trên cơ sở giới

- Dự án hỗ trợ xây dựng, phát triển các cơ sở cung cấp dịch vụ tư vấn, hỗ trợ về bình đẳng giới

- Dự án hỗ trợ xây dựng và triển khai hệ thống theo dõi, giám sát, đánh giá việc thực hiện bình đẳng giới

3.4. Phát triển các hệ thống dịch vụ có chất lượng nhằm hỗ trợ phụ nữ và nam giới được tham gia bình đẳng trong các lĩnh vực

- Phát triển các dịch vụ hỗ trợ các công việc gia đình nhằm giúp phụ nữ và nam giới được tham gia nhiều hơn vào hoạt động xã hội (dịch vụ nhà trẻ, dịch vụ cung cấp người giúp việc gia đình, dịch vụ cung cấp thức ăn tận nhà, giặt là thuê…).

- Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ y tế về sức khỏe sinh sản, bao gồm cả ngành nam học

- Mở rộng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của các thành viên trong gia đình. Tăng cường các dịch vụ chăm sóc sức khỏe trước, trong và sau khi sinh cho phụ nữ.

- Tăng cường các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản cho mọi người.

- Phát triển mạnh dịch vụ khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn hóa, thông tin, thể thao, dịch vụ việc làm và an sinh xã hội.

3.5. Có cơ chế huy động nguồn lực và đầu tư ngân sách có hiệu quả cho hoạt động bình đẳng giới

- Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính cho công tác bình đẳng giới. Bảo đảm tỷ lệ hợp lý ngân sách đầu tư cho công tác bình đẳng giới.

- Tập trung nguồn lực thực hiện bình đẳng giới trong những ngành, vùng, lĩnh vực có sự bất bình đẳng hoặc có nguy cơ bất bình đẳng giới cao.

3.6. Tăng cường các nghiên cứu liên quan tới bình đẳng giới nhằm cung cấp những cơ sở khoa học vững chắc cho việc hoạch định và thực thi chính sách, pháp luật. Phát triển khoa học công nghệ hướng tới bảo đảm bình đẳng giới.

- Hàng năm, tổ chức các nghiên cứu về bình đẳng giới trên các lĩnh vực, trong đó có xem xét vấn đề bình đẳng giới dưới góc độ văn hóa.

- Các công trình khoa học công nghệ được ứng dụng vào cuộc sống nhằm bảo đảm bình đẳng giới.

- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về bình đẳng giới, phục vụ công tác nghiên cứu và hoạch định chính sách về bình đẳng giới.

3.7. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế đa phương, song phương và phi chính phủ, nâng cao hiệu quả hội nhập trong thực hiện bình đẳng giới

- Tăng cường hội nhập khu vực và quốc tế về bình đẳng giới thông qua các chương trình, dự án đa phương và song phương.

- Thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế về bình đẳng giới như: CEDAW, Tuyên bố và Cương lĩnh hành động Bắc Kinh, Các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ,…Ký kết, phê chuẩn các cam kết quốc tế mới về bình đẳng giới.

- Tham gia tích cực vào các diễn đàn khu vực, thế giới về bình đẳng giới, bao gồm các hoạt động trao đổi thông tin, trao đổi kinh nghiệm, tổ chức hội thảo, hợp tác khác về bình đẳng giới.

3.8. Nâng cao năng lực thể chế phục vụ công tác bình đẳng giới. Tăng cường sự chỉ đạo và kiểm tra của các cấp ủy đảng, chính quyền đối với công tác bình đẳng giới nhằm tạo sự thống nhất cả về nhận thức và hành động trong triển khai thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu của Chiến lược.

- Hình thành đội ngũ cán bộ chuyên trách về bình đẳng giới có chất lượng từ trung ương đến các tỉnh, huyện

- Nâng cao năng lực của các cơ sở đào tạo chuyên ngành về công tác bình đẳng giới.

- Bồi dưỡng kỹ năng phân tích, đánh giá về bình đẳng giới cho các cán bộ làm chính sách, cán bộ trực tiếp xây dựng các kế hoạch kinh tế-xã hội.

- Xây dựng mạng lưới chuyên gia giới giúp cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới các cấp, ngành thực hiện tốt việc lồng ghép giới trong các chính sách, kế hoạch của ngành, địa phương.

- Có hệ thống giám sát, đánh giá về công tác bình đẳng giới trên phạm vi toàn quốc. Tổ chức giám sát đánh giá liên ngành, có thông tin hệ thống, có điều tra mẫu và điều tra định kỳ, giám sát đánh giá cuối kỳ; thực hiện giám sát, đánh giá dựa vào cộng đồng.

- Có cơ chế phối hợp hiệu quả các ngành các cấp thực hiện mục tiêu bình đẳng giới.

- Cấp ủy đảng và lãnh đạo chính quyền thường xuyên đưa vấn đề bình đẳng giới vào trong chương trình nghị sự để tăng cường kiểm tra và chỉ đạo. Có lộ trình cụ thể thực hiện các giải pháp bình đẳng giới, đặc biệt là trong công tác quy hoạch cán bộ.

PHẦN III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC

1. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm:

- Tổ chức, chỉ đạo thực hiện các nội dung của Chiến lược; hướng dẫn, đôn đốc các Bộ, ngành, địa phương căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch bảo đảm phù hợp với các mục tiêu, nội dung, giải pháp của Chiến lược này.

- Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương và các cơ quan chức năng có liên quan thanh tra, kiểm tra việc thực hiện Chiến lược này; định kỳ hàng năm, 5 năm sơ kết, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện Chiến lược; trình Thủ tướng Chính phủ quyết định điều chỉnh mục tiêu, nội dung Chiến lược trong trường hợp cần thiết.

2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các Bộ, ngành liên quan cân đối, bố trí vốn đầu tư hàng năm theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước để thực hiện có hiệu quả các nội dung của Chiến lược.

3. Các Bộ, ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao có trách nhiệm tổ chức thực hiện các nội dung, mục tiêu, giải pháp của Chiến lược có liên quan đến Bộ, ngành, địa phương mình; tổ chức quán triệt, phổ biến rộng rãi Chiến lược trong cán bộ, công chức và nhân dân; chỉ đạo, tổ chức thực hiện Chiến lược ở Bộ ngành, địa phương, ban hành Kế hoạch theo từng giai đoạn 5 năm và hàng năm thực hiện Chiến lược và kiểm tra việc thực hiện Chiến lược, Chương trình hành động ở Bộ ngành, địa phương mình; hàng năm tiến hành đánh giá việc thực hiện Chiến lược.

BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI



[1] Các chỉ tiêu trong mục tiêu này được xây dựng căn cứ chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 11-NQ/TW về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

[2] Các Bộ Quốc phòng, Công an và Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tính riêng.

[3] Trong 2006-2007, trong tổng số lao động được tạo việc làm mới hàng năm có khoảng 40% là lao động nữ, Cục việc làm, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

[4] Tham khảo chỉ tiêu đề ra trong mục tiêu 1 của dự thảo Đề án hệ thống an sinh xã hội với dân cư nông thôn giai đoạn 2011-2020: đạt 43% lực lượng lao động nông thôn được đào tạo nghề và chuyên môn kỹ thuật

[5] Tham khảo chỉ tiêu đề ra trong dự thảo 9 Chiến lược An sinh xã hội giai đoạn 2011-2020: 100% hộ nghèo ở nông thôn có nhu cầu sẽ tiếp cận được chính sách tín dụng ưu đãi.

[6] Tham khảo khác biệt nam-nữ trong việc đưa ra các quyết định gia đình của cuộc điều tra Gia đình Việt Nam 2006.

[7] Theo kết quả Điều tra Gia đình Việt Nam 2006, có 3,4% gia đình có hiện tượng chồng đánh vợ, 15,1% chồng mắng chửi vợ và 7,2% chồng ép buộc vợ quan hệ tình dục. (Bộ VH-TT-DL và các cơ quan khác 2008)

[8] Chỉ số này được tham khảo từ dự thảo Chương trình quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình giai đoạn 2011-2015.

[9] Theo thống kê của Ban Chỉ đạo 130/CP (Ban Chỉ đạo phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em), chỉ trong sáu tháng đầu năm 2009, cả nước đã xảy ra 191 vụ buôn bán phụ nữ, trẻ em. Báo cáo của Bộ Công an năm 2009 cho biết, tỷ lệ phụ nữ và trẻ em gái bị buôn bán được phát hiện, được chữa trị và dạy nghề đạt 50%.

Số lượt đọc:  1102  -  Cập nhật lần cuối:  23/07/2010 06:00:51 AM
Bài mới:  
Bài đã đăng:
Các bài được đọc nhiều nhất
14/09/2009 03:52' PM
Kỹ thuật chăn nuôi thỏ quy mô hộ gia đình tại Phú Thọ
23/11/2009 12:49' PM
Tham quan trại nuôi gà và nuôi giun tại xã Xuân Lũng
24/06/2006 08:54' AM
Viết Thu hoạch sau Cuộc Tham quan Học tập
15/06/2010 08:40' PM
Mẹo sử dụng và cài đặt font tiếng Việt cho SPSS 15 và 16
16/07/2006 09:01' AM
Kỹ thuật Trồng và Chăm sóc Tre Bát độ để lấy Măng
11/02/2011 12:23' PM
Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới 2011-2020
11/03/2009 05:51' AM
Chia sẻ kỹ thuật chăm sóc heo nái khi sanh sản và hậu sanh sản
11/02/2011 11:48' PM
Ghi chép các nghiệp vụ kế toán với các tài khoản chữ T
14/09/2009 10:06' PM
Kỹ thuật trồng nấm mèo
08/04/2009 05:33' AM
Vai trò giới trong phân công lao động gia đình ở Việt Nam qua những biến động xã hội
Đăng ký nhận tin thư
Họ và tên:
Email:
Tổng số lượt truy cập: 7.750.723
Số người trực tuyến: 15

©2004 Bản quyền Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn - RDSC
Số 2 nhà D, 45/39 Hào Nam, Đống Đa, Hà Nội,Việt Nam
Email: saola52@gmail.com - Phone: +84-913229762 - Fax: +84-4-3-512 1175
Website được xây dựng trên Công nghệ ViePortal của Hanoi Software JSC