Đặng Ngọc Quang. RDSC.- 09/06/06.
Lời giới thiệu
Có nhiều tổ chức Tổ chức Phi chính phủ Việt Nam (VNGOs) có những vướng mắc trong việc nhìn nhận vị trí và đặc điểm của mình như một bộ phận của xã hội dân sự. Các tổ chức này cũng ít có dịp trao đổi về các khó khăn mình đang gặp và các phương thức ứng phó, hoặc chia sẻ về các điểm mạnh và điểm yếu của mình và các kinh nghiệm khắc phục. Các VNGOs cũng ít có dịp phản ảnh những mong đợi của mình với các đối tác khác như chính phủ, các INGO và các cơ quan hội chủ quản. Trong ngày 6 tháng 6 năm 2006 tại Khu Biệt thự Hồ Tây, Hà Nội, Dự án Tăng cường Năng lực cho các Tổ chức Phi chính phủ Việt Nam (VNCB) do CARE va CISDOMA đồng thực hiện, đã tổ chức cuộc toạ đàm “Vai trò của các tổ chức PCPVN trong công cuộc xóa đói giảm nghèo” để đáp ứng một phần nhu cầu đó.
Cuộc gặp là một diễn đàn để các tổ chức VNGO chia sẻ những nhìn nhận về bản thân nhóm tổ chức của mình, về môi trường công tác, chia sẻ kinh nghiệm trong việc xây dựng và phát triển tổ chức, và phản ánh những mong đợi của mình với bản thân nhóm các VNGO, các đối tác chính phủ, các tổ chức phi chính phủ quốc tế (INGO), và các cơ quan chủ quản. Chi tiết về mục tiêu của cuộc toạ đàm, các kết quả cần tạo ra được giới thiệu trong Phụ lục 1.
Tiến trình toạ đàm được xây dựng đồng thuận giữa nhóm xúc tác viên và Ban tổ chức (BTC). Tiến trình này được tổ chức đi từ những hiểu biết chung đi đến những thực hành cụ thể, và dùng thực tế làm nền để thảo luận xây dựng ý kiến tập thể của các tổ chức tham dự. Phương thức của toạ đàm là kết hợp các báo cáo đề dẫn ngắn (30-45’) của một nhà nghiên cứu, hai tổ chức VNGO, và một cơ quan chính phủ để đưa ra các thông tin cơ bản hoặc những gợi ý để làm nền tảng cho các cuộc thảo luận tiếp theo. Giữa các phiên thảo luận đã có những năng động nhóm để xây dựng quan hệ giữa các tham dự viên trong đó có nhiều người lần đầu tiên mới gặp nhau. Chi tiết về tiến trình được giới thiệu trong Phụ lục 2. Các cuộc thảo luận diễn ra theo sự hướng dẫn của xúc tác viên băng hai hình thức hỏi đáp và bình luận nhóm lớn, và hình thức động não trực quan dùng bìa màu.
Tiếng nói của toạ đàm chủ yếu là của các VNGOs có trụ sở tại Hà Nội. Tới dự tạo đàm có 51 đại biểu (có 28 nữ) đến từ 37 tổ chức trong đó có 31 tổ chức VNGOs có trụ sở ở Thủ đô, với ba tổ chức từ các địa phương, và đaị biểu của ba INGOs. Các đại biểu khác đến từ các cơ quan nhà nước.
Cuộc toạ đàm đã nghe các báo cáo ngắn mang tính chất gợi mở giới thiệu kết quả một nghiên cứu mới hoàn thành năm 2006 về xã hội dân sự Việt Nam của CIVICUS. Hai báo cáo chia sẻ kinh nghiệm của VNGO đã được giới thiệu. Toạ đàm cũng được nghe một báo cáo giới thiệu về chương trình 135 Pha II, và khả năng tham gia chương trình của các VNGOs.
Quan niệm về xã hội dân sự (XHDS), vị trí và đặc điểm cuả các tổ chức NGO trong xã hội dân sự được đề cập qua các báo cáo của Báo cáo viên đến từ VUSTA, RDSC, và CDSM.
Báo cáo viên từ VUSTA đã giới thiệu tổng quan kết quả đánh giá sơ bộ của CIVICUS về xã hội dân sự Việt Nam. Dựa theo Báo cáo nghiên cứu của CIVICUS, báo cáo từ VUSTA đã giới thiệu khái niệm xã hội dân sự, vai trò của nó trong xã hội, và kết quả đánh giá về khu vực này về môi trường hoạt động của khu vực, hệ thống giá trị của khu vực này, và tác động của nó. Báo cáo cho biết quan niệm chung trên thế giới coi mức độ phát triển xã hội dân sự là thước đo của sự dân chủ trong một xã hội, và NGO là một bộ phận của xã hôị dân sự.
Trong phần thảo luận, các tham dự viên cũng thống nhất ý kiến với kết cuả nghiên cứu của CIVICUS về sự tồn tại khách quan của XHDS ở Việt Nam và hoan nghênh xu hướng thừa nhận sự tồn tại và vai trò của XHDS trong qúa trình xây dựng Việt Nam.
Cuộc toạ đàm ghi nhận việc xã hội Việt Nam chậm thừa nhận khu vực XHDS và vai trò tích cực của các tổ chức XHDS trong quá trình phát triển đất nước. Toạ đàm cũng ghi nhận các vị thể khác nhau giữa các tổ chức đoàn thể, các tổ chức VNGOs, và các tổ chức cộng đồng. Chỉ gần đây, đảng và chính phủ mới đồng ý cho đề cập và nghiên cứu về xã hội dân sự. Tuy vậy, ngay trong dự thảo Luật về Hội cũng không thấy đề cập về XHDS và tổ chức PCP, mà chỉ nói về Hội.
Luật về Hội đã tách riêng nhóm 5 tổ chức chính trị xã hội không thuộc diện điều hành của luật. Như vậy, trong chừng mực nào đó có sự bất bình đẳng giữa các tổ chức có cùng bản chất hội. Nhiều tổ chức hội, ví dụ ở dạng các câu lạc bộ, chưa có tính chất chính thức, không được đăng ký, và do vậy rất dễ bị tổn thương vì bị coi là hoạt động không hợp pháp.
Về đặc trưng và vai trò của VNGOs
Toạ đàm cho rằng các đặc điểm chính của các NGO là hệ thống giá trị cốt lõi, thường bao gồm giá trị phi vụ lợi, hoạt động vì người nghèo, minh bạch, và dân chủ. Sự minh bạch là một loại đặcđiểm tự thân nhưng cũng là yêu cầu sống còn với các NGO để đảm bảo sự phát triển và tồn tại cuả mình.
Một giá trị khác của các NGO là hợp tác. Các NGOs không nhìn nhận nhau như các đối thủ cạnh tranh. Phần lớn các NGOs còn nhỏ bé,có cùng hệ giá trị và nhu cầu hợp tác rất cao để cùng phát triển. Nhu cầu hợp tác còn thể hiện ở nhu cầu phối hợp trong công cuộc xóa đói giảm nghèo này. Sự hợp tác có khả năng duy trì sự đa dạng các sắc thái tổ chức, và giúp tận dụng các kỹ năng của nhau để sử dụng một cách tối ưu các nguồn vốn xã hội.
Vai trò chung của NGO được đưa ra trong báo cáo từ VUSTA, và các vai trò cụ thể của hai VNGOs được mô tả trong hai báo cáo trường hợp. Các vai trò chung là vai trò kinh tế, vai trò xã hội, và trò chính trị. Các vai trò cụ thể các báo cáo trường hợp nêu ra bao gồm: cải thiện các cấu trúc thể chế xã hội, ví dụ ở nông thôn, nâng cao nguồn vốn con người và nguồn vốn xã hội cuả người nghèo và cộng đồng, mở rộng dân chủ và sự lựa chọn cho người nghèo, và đóng góp xây dựng chính sách.
Qua các ý kiến động não được nhóm lại, Toạ đàm nhìn nhận vai trò của các tổ chức PCPVN bao gồm: đóng góp vào quá trình xóa đói giảm nghèo; giáo dục và phổ biến chính sách pháp luật; cung cấp dịch vụ xã hội: chăm sóc sức khoẻ, xây dựng/nâng cao năng lực; cung cấp thông tin; thúc đẩy mở rộng dân chủ (sự tham gia, dân chủ cơ sở, xây dựng mô hình cộng đồng,...); và vận động hay là góp phần hình thành chính sách.
Cơ hội và thách thức với các VNGO
Để tìm hiểu về cách nhìn nhận với các cơ hội và thách thức khi tham gia cộng cuộc xoá đói giảm nghèo, toạ đàm đã thực hiện động não theo nhóm. Toạ đàm nhìn nhận các cơ hội là nhà nước quan tâm hơn đến VNGOs, và các tổ chức được nhìn nhận nhiều hơn. Các cơ hội tham gia chương trình mục tiêu giảm nghèo được mở rộng với các VNGOs. Các VNGOs cũng nhận được tài trợ nhiều hơn từ các tổ chức quốc tế. Hiện tại cũng có nhiều chương trình đào tạo cho VNGOs. Cuối cùng, có nhiều sự ủng hộ từ người dân địa phương nơi địa bàn dự án. Việc hội nhập quốc tế, và việc Việt Nam sắp tham gia WTO cũng được coi là cơ hội với VNGOs.
Trong thảo luận, có ý kiến cho rằng, sự nhìn nhận về vai trò của VNGOs từ các cơ quan nhà nước trong những năm gần đây có cải thiện tích cực hơn nhưng chỉ ở cấp trung ương. Tuy nhiên, điều này cũng đã tạo điều kiện cho VNGOs có các cơ hội tham gia các chương trình giảm nghèo của nhà nước.
Về các trở ngại với các VNGOs, toạ đàm chỉ ra các thách thức chủ yếu liên quan tới quan hệ giữa chính phủ và VNGOs. Trước hết, tạo đàm cho rằng sự hiểu biết giữa cơ quan nhà nước và các tổ chức VNGOs còn hạn chế, và chính quyền còn chưa tin vào các tổ chức VNGOs. Điều này có thể do nhìn nhận của chính phủ về tổ chức Phi Chính Phủ Việt Nam chưa đầy đủ chẳng hạn do thiếu thông tin. Do vậy, mà hiện tại hỗ trợ kinh phí từ Chính phủ cho VNGOs còn hạn chế. Ngoài ra, Toạ đàm nhận xét là chưa có sự kết hợp nguồn lực giữa các cơ quan Chính Phủ và các tổ chức Phi Chính Phủ Việt Nam. Toạ đàm cho rằng các thủ tục hành chính trong quá trình xây dựng dự án, phê duyệt dự án; chính sách với các VNGOs còn chưa thiết thực và rườm rà. Do quan hệ với chính phủ như vậy, các tổ chức VNGOs còn phụ thuộc nhiều vào các tổ chức Phi Chính Phủ nứơc ngoài.
Các điểm yếu về tổ chức và ứng phó của VNGOs
Trong một hoạt động não tập thể, toạ đàm đã phát hiện các điểm yếu chính của VNGOs là gắn liền với tính liên kết giữa các thành viên của nhóm, liên kết của các VNGOs với các chương trình quốc gia, thiếu khả năng tiếp cận với các thông tin kinh tế xã hội, và thiếu một hệ thống hỗ trợ (hệ thống quản lý). Nói chung VNGOs chưa có năng lực quản lý các dự án lớn. Một số điểm yếu của các VNGOs gắn liền với năng lực của tổ chức là không biết nói tiếng dân tộc thiểu số, kinh nghiệm thực tiễn ít, và thiếu hiểu biết về tập quán địa phương. Một tổ chức còn nêu điểm yếu là sức khoẻ hạn chế.
Qua phiên thảo luận toàn thể, Toạ đàm nhìn nhận hai thách thức lớn nhất trong việc duy trì và phát triển tổ chức để thực hiện được vai trò đã chọn của mình của các VNGO là về nguồn lực con người và về tài chính. Một số bình luận trong Toạ đàm nhận xét là một điểm yếu khác của VNGOs là chưa có chiến lược dài hạn của mình. Các tổ chức nước ngoài sẽ khó tin tưởng ở các tổ chức như vậy. Các VNGOs nên xác định vai trò và chức năng của mình trong xã hội Việt Nam, và nên xây dựng chiến lược phát triển cụ thể thì các tổ chức quốc tế sẽ có niềm tin và tạo nhiều cơ hội hơn.
Các VNGOs ít có khả năng duy trì nguồn nhân lực chất lượng cao và chuyên nghiệp bằng cách dùng lương cao và chế độ phụ cấp hào phóng. Việc các nhân viên giỏi được đào tạo rời bỏ tổ chức là phổ biến. Các VNGOs đã tìm cách giải quyết vấn đề này bằng việc xây dựng văn hoá tổ chức và chế độ thu nhập phù hợp, không nhất thiết có tính cạnh tranh cao so với INGOs. Các yếu tố văn hoá tổ chức như thế giới quan, hệ giá trị của tổ chức được coi là chất keo gắn các thành viên với tổ chức. Một từ thường được nhắc đến là cái tâm sáng và đẹp vì người nghèo và vì những người thiệt thòi trong xã hội. Vai trò của lãnh đạo tổ chức trong quá trình xây dựng, duy trì và phát triển văn hoá tổ chức được coi là quan trọng, cần thể hiện qua việc họ phải sãn sàng là những người đầu tiên làm việc tình nguyện vì mục tiêu của tổ chức khi có khó khăn.
Các ý kiến trao đổi nhiều tại Toạ đàm về xây dựng một tổ chức học hỏi như một cách ứng phó với một thách thức là những người giỏi đã đựơc đào tạo chuyển công tác, trong khi chi phí đào tạo con người rất tốn kém, và những tổn thất do “chảy máu não” là rất đáng kể. Việc chuyển các hiểu biết kỹ năng của cá nhân trở thành năng lực tổ chức là chủ chốt. Kinh nghiệm được chia sẻ cho thấy, lãnh đạo tổ chức phải nắm được bộ nhớ của tổ chức ở đâu (máy tính, thư vịên, các quy chế quy tắc, hoặc ở con người nào. Đối với những cán bộ có vai trò bộ nhớ của tổ chức, họ cần được giữ làm đội ngũ nòng cốt. Kho kỹ năng phải nằm ở các cán bộ nòng cốt này. Quá trình làm việc nhóm và ra quyết định tập thể giúp đưa ra hệ thống tri thức và kỹ năng, biến nó thành tài sản có giá trị và có thể truyền đạt cho những người mới.
Việc duy trì một phương thức trả lương phù hợp và minh bạch cũng góp phần giải quyết khó khăn điển hình của các VNGOs về tiền lương. Nếu lãnh đạo làm tình nguyện viên được, thì nhân viên sẽ có những lúc người ta sẵn sàng làm việc với mức lương thấp. Một tổ chức VNGO cho biết là đã áp dụng hệ số lương của nhà nước và có các hệ số thu hút rõ làm để làm nổi bật sự khác biệt. Chế độ thưởng cho công việc tốt, cũng là cơ chế khuyến khích và tôn vinh cán bộ. Khi tổ chức gặp khó khăn, việc cởi mở với các thành viên cũng là cốt yếu như một thể hiện sự tôn trọng quyền mưu sinh của cán bộ.
Các thành viên Toạ đàm rất băn khoăn về khả năng tài chính yếu của các VNGOs. Trừ các đoàn thể xã hội-chính trị, như Hội Phụ Nữ, nhận được trợ cấp của nhà nước, đồng thời và nhận được sự ưu tiên của các tổ chức quốc tế và INGOs, nhiều khi dự án được điều đến, các VNGOs phải tạo ra các nguồn thu từ các nguồn tài trợ hoặc từ các hoạt động dịch vụ của mình. Một tổ chức đoàn thể cho biết, tuy có thể được nhà nước hỗ trợ về lương, văn phòng, đoàn thể vẫn phải chủ động xây dựng và tìm nguồn tài chính cho các dự án của mình ở cơ sở giống như các VNGOs khác.
Với xu hướng đấu thầu trong cung cấp tài chính cho hoạt động phát triển, VNGOs ít có khả năng thành công khi đấu thầu. So với các INGOs, VNGO có năng lực thấp hơn, ít có thế làm việc trực tiếp với nhà tài trợ do hạn chế về ngoại ngữ. Nhiều VNGOs còn phải lo những chi phí cơ bản như văn phòng và nhân viên, chưa có điều kiện cải thiện các năng lực đấu thầu.
Một vấn đề được nêu ra là hiểu biết về NGOs giữa các VNGOs và các đoàn thể còn quá ít, không biết được năng lực của nhau để cùng phối hợp ví dụ trong đào tạo, hoặc để tìm tiếng nói chung trong các diễn đàn quốc tế. Một số đề xuất cụ thể được đề ra như lập và cập nhật danh bạ các VNGOs, lập trang Web để chia sẻ thông tin. Trang web cũng giúp các VNGOs trong việc thể hiện mình giúp cho xã hội hiểu rõ hơn, và tìm kiếm các nhà tài trợ thuận lợi hơn.
Khả năng tham gia các chương trình giảm nghèo
Bàn về khả năng tham gia các chương trình gỉam nghèo của nhà nước, các thành viên tham gia toạ đàm hoan nghênh các cơ hội tham gia đang mở rộng, ví dụ trong Chương trình 135 Pha II. Trong số tham dự viên đã có hai tổ chức thuộc khối đoàn thể đã tham gia thực hiện Chương trình 135 ở Pha I. Ý kiến chung của toạ đàm là cơ hội tham gia 135 cuả các VNGOs là rất hiếm so với các cơ quan nghiên cứu hoặc các đoàn thể quần chúng như Hội Phụ nữ hay Hội Nông Dân. Điều này được coi là sự thể hiện của việc vai trò của các NGOs chưa được nhìn nhận như một một lực lượng hữu hiệu giúp chính phủ tham gia XĐGN.
Các tham dự viên cũng cho rằng các VNGOs, kể cả các tổ chức lớn như VUSTA, chưa có điều kiện tham gia vào quá trình xây dựng chương trình, chuẩn bị góp ý cho các văn bản hướng dẫn thực hiện. Hiện tại các VNGOs cũng chỉ có cơ hội thụ động chờ các văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện Chương trình 135 Pha II của các cơ quan chính phủ.
Qua phiên động não toàn thể, Toạ đàm nêu ra các điểm mạnh có thể là lợi thế của các VNGOs trong XĐGN. Trước hết các VNGOs là các tổ chức tâm huyết nhiệt tình với sự nghiệp giảm nghèo, và có tính năng động cao. Cán bộ của VNGOs là chủ yếu là các trí thức đã được đào tạo, và có nhiều kinh nghiệm kinh nghiệm hoạt động dự án và các kinh nghiệm học tập từ các tổ chức nước ngoài. Các VNGOs có mối quan hệ rộng và nhiều tổ chức có mạng lưới hoạt động tại địa phương. Một điểm mạnh của VNGOs là khả năng làm việc ở cơ sở và đến tận các vùng sâu vùng xa của đất nước.
Các tham dự viên cho rằng các VNGOs có những kinh nghiệm quý về lập kế hoạch có sự tham gia, thực hiện các ưu tiên phát triển cùng người dân, xây dựng và triển khai các mô hình khuyến nông, các nhóm sở thích, các nhóm tín dụng vi mô, xây dựng các mô hình tự quản xây dựng các công trình hạ tầng thôn bản, và có kinh nghiệm đào tạo, xây dựng năng lực. Các kinh nghiệm này nên được dùng làm căn cứ để các NGO tham gia thực hiện các hợp phần khác nhau của Chương trình 135 Pha II.
Có ý kiến thảo luận cho rằng các nhà tài trợ quốc tế đề cao năng lực của các VNGOs trong khi làm việc với cộng đồng và đó là cơ sở để VNGOs tiếp cận với các nguồn tài trợ. Các nguồn kinh phí lớn như EU đều có nội dung dành cho sự tham gia của các VNGOs. Các VNGOs có thể tiếp xúc trực tiếp với các cơ quan tài trợ này. Tuy vậy để tiếp cận với các nguồn này, VNGOs cần vượt qua các khó khăn về các trình tự thủ tục phức tạp, và ngoại ngữ, mặc dù họ cũng đưa ra các hướng dẫn rất cụ thể và rõ ràng. Khi đã xin được kinh phí từ nguồn này, uy tín của tổ chức sẽ được nâng lên rất nhiều. Kinh nghiệm của tổ chức naỳ cho thấy làm việc với các tổ chức quốc tế "dễ chịu" hơn là xin tài trợ của nhà nước do chế độ tài chính minh bạch.
Các biện pháp tự giúp và đề nghị được giúp
Các biện pháp hành động tập thể để tự giúp nhau được phát hiện qua phương pháp động não và loại trừ phủ quyết để đạt được đồng thuận. Sự đồng thuận trong các tham dự viên cuộc toạ đàm này đạt được bằng cách bất kỳ ý kiến nào mà một tham dự viên không đồng ý đều bị đưa ra ngoài danh sách mà không cần giải thích.
Cuộc toạ đàm đưa ra các đề xuất theo hướng tăng cường liên kết VNGO, ví dụ xây dựng các mạng lưới, hoặc thành lập hiệp hội PCPVN. Việc thực hiện các hoạt động đoàn kết tương trợ nhau được đề cập, ví dụ ở dạng xây dựng các nhóm công tác chuyên đề. Các biện pháp tăng cường chia sẻ thông tin được đề xuất thông qua các cuộc họp thường kỳ giữa các tổ chức VNGOs để chia sẻ kinh nghiệm. Các mạng lưới đang vận hành được đề nghị tiếp tục tập huấn cho cán bộ của VNGOs, nâng cao năng lực hiểu biết chính sách của chính phủ. Việc thiết lập hệ thống thông tin nội bộ VNGOs được coi là cần thiết, và việc nên làm sớm là lập danh bạ mới và có cập nhật hàng năm của các VNGOs.
Đề cập tới quan hệ với các cơ quan chính phủ, cụ thể là Ủy ban Dân tộc và Miền núi, Bộ LĐ-TB- XH, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, và Bộ Nội vụ, toạ đàm mong đợi các VNGOs được đối xử bình đẳng so vơí các cơ quan chính phủ, được nhìn nhận đánh giá đúng tính chất và vai trò của PCPVN, và được quan tâm hơn trong công cuộc giảm nghèo.
Một nhóm mong đợi với chính phủ của Toạ đàm là về hành lang pháp lý cho hoạt động của VNGOs. Toạ đàm mong đợi chính phủ ban hành luật về Hội, về NGOs và có chính sách để các tổ chức VNGOs phát triển. Toạ đàm mong đợi chính phủ thể chế hoá cơ chế tham gia của VNGO trong các chương trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Toạ đàm đề xuất các biện pháp cụ thể với chính phủ để tạo điều kiện cho các tổ chức VNGO tham gia tốt hơn các chương trình giảm nghèo, cụ thể là chương trình 135 Pha II. Cụ thể là mong đợi được chính phủ thông tin cởi mở hơn về các dự án Xoá Đói Giảm Nghèo, hướng dẫn cụ thể bằng văn bản về thủ tục và cơ chế tham gia, và cải thiện các thủ tục phê duyệt dự án.
Với các tổ chức hội chủ quản, Toạ đàm cho rằng các tổ chức này nên hiểu rõ vai trò của các VNGOs rõ hơn. Các Hội chủ quản nên tăng cường năng lực cho tổ chức trực thuộc, tạo ra cơ chế và thủ tục thông thoáng hơn để các tổ chức thành viên tham gia vào các dự án giảm nghèo, thiết lập dự án mẹ để các tổ chức thành viên tham gia. Toạ đàm cũng cho rằng các Hội chủ quản tiếp tục tăng cường liên kết với INGOs.
Toạ đàm cho rằng, các INGOs nên hỗ trợ nâng cao năng lực cho VNGOs, ví dụ kỹ năng viết đề xuất dự án, hỗ trợ kỹ thuật, và chia sẻ kinh nghiệm. Toạ đàm cho rằng INGOs nên tạo cơ hội hợp tác hơn nữa cho các VNGOs, ví dụ nên phối hợp với VNGOs để thực hiện các dự án cụ thể.
Kết luận
Cuộc toạ đàm đã đạt được mục tiêu là một diễn đàn để các thành viên dự án VNCB hiểu rõ hơn về xã hội dân sự và vị trí của các VNGOs trong cộng đồng này. Toạ đàm cũng làm rõ các đặc điểm của VNGOs, và các vai trò của nó qua các bản thuyết trình đề dẫn có chất lượng cao và thảo luận nhóm tích cực. Với các phương pháp động não nhóm trực quan, toạ đàm đã phân tích những điểm mạnh yếu, thuận lợi khó khăn cũng như các thách thức và cơ hội với các VNGOs trong việc tham gia công cuộc giảm nghèo. Các tham dự viên đã chia sẻ các bài học kinh nghiệm để giải quyết hai vấn đề vướng mắc lớn của các VNGOs là xây dựng tổ chức học hỏi, và văn hoá tổ chức để giải quyết các khó khăn về nhân sự và khả năng trả lương để duy trì đội ngũ. Với những nỗ lực của mình, các tham dự viên đã đề xuất các hướng nâng cao năng lực cho cộng đồng các VNGOs chủ yếu thông qua các hành động tập thể thông qua mạng lưới, và đẩy mạnh việc chia sẻ thông tin. Các VNGOs mong đợi nhà nước tiếp tục hoàn thiện môi trường chính sách cho các VNGOs, tạo điều kiện thuận lợi cho các VNGOs tham gia các chương trình giảm nghèo thông qua việc thông tin kịp thời và làm rõ các thủ tục và quy trình tham gia các chương trình giảm nghèo của chính phủ. /.
Nguồn:
DNQ Số lượt đọc:
347
-
Cập nhật lần cuối:
14/06/2006 05:17:44 AM Bài mới:
 Nuôi giun quế ở cộng đồng thôn Quất và Bồ Xồ 01/04/2012 03:44' PM Nuôi giun quế là một hoạt động bổ trợ để thúc đẩy chăn nuôi gà an toàn
sinh học cho các CLB chăn nuôi của chị em dân tộc Dao và Mường ở hai
thôn vùng cao Quất và Bồ Xồ (xã Yên Lương). Tuy được phổ biến rộng rãi
trên báo chí, trên thực tế, trong gần một nghìn hộ ở xã Yên Lương chỉ có
một hộ nuôi giun quế ở quy mô nhỏ, và một điểm nuôi giun trình diễn ở
Trạm thực nghiệm của Trung tâm RDSC. Cả hai điểm đều chưa đủ điều kiện
để cung cấp giun quế giống cho nhân dân trong xã. Hoạt động tổ chức cộng đồng của dự án CASI 3 tại Yên Lương03/03/2012 12:03' PM Trong tháng 2, Dự án CASI 3 Yên
Lương có những hoạt động về tổ chức cộng đồng ở cấp xã và thôn. Dự án đã tổ chức Ban Quản lý và cộng đồng đã hình thành hai CLB và lãnh đạo của CLB tại thôn Quất (phụ nữ Thổ và Mường) và Bồ Xồ (phụ nữ Dao). Các CLB đã đưa ra kế hoạch hoạt động chi tiết của dự án cho tháng 3/2012. Đại biểu Phù Ninh thăm quan mô hình tín dụng và canh tác bền vững tại xã Yên Lương 22/12/2011 03:10' PM Ngày 30 tháng 11 năm 2011, 50 đại biểu từ cộng đồng ba xã Thạch Thản, Vĩnh Phú và Bảo Thanh huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ cùng Ban Quản lý Dự án VM021 do SRD thực hiện đã tổ chức một chuyến tham quan học tập tới xã Yên Lương. Là một dự án về quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững, VM021 quan tâm tìm hiểu các bài học của Hội Phụ nữ xã Yên Lương về xây dựng và duy trì các tổ hợp tác của nông dân, đặc biệt qua mô hình Quỹ tín dụng phụ nữ xã cho người nghèo, và mô hình phát triển chăn nuôi gia cầm theo hướng thị trường.
Những phiên chợ quê vùng Yên Lương 25/07/2011 07:15' AM
Chợ quê thường họp theo phiên là các thức để người nông dân trao đổi hàng hoá, thường do
chính họ sản xuất với các nông dân vùng khác, hoặc hàng hoá của đô thị
do thương nhân mang tới. Cách thức tổ chức của nông thôn, khác hẳn với
đô thị về thời gian và thời điểm. Những lựa chọn trong baì tóan nuôi gà giống của một gia đình thôn Lục Lương 18/06/2011 03:06' PM Sau tết năm 2011, anh chị Kim-Đào ở thôn Lục lương đã nuôi và bán được hai lứa gà con thành công. Anh chị đã học được toàn bộ kinh nghiệm chăn nuôi gà con và gà thịt tại trạm thực nghiệm của Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn. Anh chị đã có những lựa chọn cho hướng đi trong chăn nuôi gà của gia đình theo những tính toán kinh tế. Bài đã đăng: RDSC KT Kết thúc Tham gia Dự án Hỗ trợ Dân bản Quản lý Rừng Bền vững ở Kon Tum 27/05/2006 10:04' PM RDSC KT, 27/05/06.
Do những điều kiện khác nhau, từ ngày 1 tháng 5 năm 2006, Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn Chi nhánh Kon Tum đã ngừng tham gia thực hiện Dự án Hỗ trợ Dân bản Quản lý Rừng Bền vững cùng chính quyền và nhân dân xã các xã P’Ê, Đắk P’Ne, Đăk Kôi, Hiếu, và Ngọc Tem. Việc tiếp tục thực hiện Dự án sẽ do các đơn vị khác trong tỉnh đảm nhiệm dưới sự chỉ đạo của ngành lâm nghiệp tỉnh. Chương trình tới đây của RDSC tại Kon Tum là xây dựng một dự án nghiên cứu trong ba năm 2005-2008. Đề tài nghiên cứu cấp cơ sở này có mục tiêu chung là xây dựng nguồn lực kỹ thuật phát triển nông thôn ở cơ sở tại một trong những xã được lựa chọn trong tỉnh. Tổng kinh phí dự kiến của đề tài trong ba năm trị giá gần một tỷ đồng do RDSC đầu tư cùng với một nguồn đầu tư phối hợp khác.
Tiến trình xây dựng Quỹ tín dụng phụ nữ 04/05/2006 01:26' AM Các dự án tín dụng vi mô do RDSC xây dựng thường là nòng cốt trong các chương trình phát triển cộng đồng. Các cuộc đánh giá chỉ ra nhiều nguyên nhân dẫn tới kết quả này, trong đó các lý do kinh tế khi người nông dân nghèo chưa được đáp ứng nhu cầu về tín dụng và tiết kiệm vi mô cho sản xuất. Một điều không kém quan trọng là nhu cầu liên kết giữa những người nông dân, nhất là phụ nữ, khi tham gia các chương trình tín dụng. Một điều khác là khả năng của các dự án tín dụng liên kết người nông dân với với các nguồn lực khác như khuyến nông, hay các nguồn tài chính chính thức. Từ 1996, chương trình tín dụng của RDSC được thực hiện tại xã Phượng Mao huyện Thanh Thuỷ, hiện tại các chương trình này được áp dụng nhân rộng tại huyện Thanh Thuỷ, Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ, huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình. Nhiều tổ chức đã tới tham quan và học tập để thực hiện tại địa phương mình. DNQ, 12/05/06 Tự học dùng thư điện tử với Outlook Express (2) 25/04/2006 07:09' AM DNQuang, RDSC, 25/04/06.
Có nhiều tổ chức không có khả năng tuyển dụng các cán bộ có trình độ tin học thành thục, nhất là về dùng thư điện tử. Nhiều khi, không phải là do ít kinh phí, mà nguồn lực nhân lực ở địa phương thiếu đào tạo cơ bản về kỹ năng tin học. Bài viết này giúp các bạn đọc hoàn thiện một kỹ năng tin học văn phòng là kỹ năng dùng thư điện tử với Outlook Express, một phần mền thông dụng của bộ MS Office. |