Những ghi nhận ở xã Zuôih vùng Sông Bung của huyện Nam Giang
Người thực hiện: Nguyễn Thị Khanh
Chức vụ: Cán bộ dự án
Ngày 15 tháng 2 năm 2008
1. Giới thiệu chung
Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn (RDSC) là một tổ chức nghiên cứu khoa học xã hội được thành lập từ năm 1995, Trung tâm đã và đang thực hiện thành công nhiều chương trình phát triển cộng đồng tại các vùng miền núi và dân tộc thiểu số. Trung tâm cũng thực hiện các hoạt động nghiên cứu về đánh giá nghèo đói, khảo sát đánh giá tác động về môi trường tự nhiên và kinh tế xã hội tại các địa phương trong cả nước. Ngoài ra trong chương trình của mình RDSC còn tham gia các hoạt động theo dõi giám sát việc thi hành các chính sách bảo vệ của các Ngân hàng phát triển đa phương tại Việt Nam, cụ thể như Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) và Ngân hàng thế giới (WB).
Trong thời gian 3 ngày từ 24 đến 26 tháng 1 năm 2008 Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn (RDSC) đã tổ chức chuyến khảo sát sơ bộ tại vùng dự án thuỷ điện Sông Bung 4. Đoàn công tác của RDSC gồm 3 thành viên chính thức: 1) Đặng Ngọc Quang, Giám đốc RDSC, nghiên cứu viên chính; 2) Nguyễn Thị Khanh, nghiên cứu viên RDSC và 3) Jelson Garcia, công dân Philippine, chuyên gia của tổ chức BIC có trụ sở tại Mỹ) và anh Ngọc Diêp, cán bộ của tổ chức FIDR (Tổ chức cứu trợ/phát triển quốc tế là NGO Nhật bản) có trụ sở tại TP Đà Nẵng làm nhiệm vụ hỗ trợ.
2. Mục tiêu
Chuyến khảo sát này được tổ chức nhằm:
1) Tìm hiểu
- Tình hình về môi trường, kinh tế, xã hội hiện tại của nhân dân xã Zuoih
- Tiến trình tái định cư của nhân dân, những thuận lợi và trở ngại
- Những hỗ trợ của nhà nước và dự án trong quá trình tái định cư
- Quá trình bảo tồn và phát triển nguồn đa dạng sinh học
2) Tìm hiểu về
- Những nội dung mà Trung tâm có thể tham gia hỗ trợ cộng đồng trong các tiến trình trên
3. Những phát hiện và ghi nhận
3.1 Mô tả chung về Dự án thuỷ điện Sông Bung 4
Dự án thuỷ điện Sông Bung được xây dựng trên sông Bung - một nhánh của sông Vũ Gia, có vị trí tại các xã Zouih và Ta Bhing của huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam, miền Trung Việt Nam. Vùng dự án gồm có một đập, một hệ thống chuyển nước ngầm và một nhà máy phát điện đập Sông Bung 4, nằm trên Sông Bung cách khoảng 3km về phía thượng lưu hợp lưu với sông A Vương, tạo ra một hồ chứa có diện tích 15,8km với mức nước dâng bình thường (FSL) là +222,5m, và giảm diện tích xuống khoảng 7,8km2 với mức nước vận hành tối thiểu (MOL) là +195m.
Nước từ hồ chứa nước Sông Bung 4 sẽ được chuyển dòng, thông qua đường hầm dẫn nước đến và đường ống dẫn nước vào tua biin đến nhà máy trên Sông Bung cách khoảng 5km về phía hạ lưu đập. Sự chênh lệch cao trình giữa Hồ chứa và nhà máy là khoảng 125m với mức nước dâng bình thường. Tại nhà máy nước được chuyển trả lại sông Bung thông qua một kênh xả ngắn.
Công trình này do ADB tài trợ và tổng dự toán khoảng 250triệu USD, bao gồm thuế và các khoản chi phí dự phòng và phí tài chính. Dự kiến, công trình này sẽ bắt đầu khởi công xây dựng vào năm 2008, tuy nhiên công tác chuẩn bị đã được bắt đầu từ năm 2006.
Những nét cơ bản về vùng ảnh hưởng
Theo như thiết kế, xã Zuoih là xã bị ảnh hưởng chính của Dự án. Tổng số dân toàn xã là 1460 nhân khẩu sinh sống trong 307 hộ gia đình. Hầu hết cư dân của xã là người dân tộc Co Tu, chỉ có vài người Kinh sống tại đây, chủ yếu là người đến buôn bán. Có 4 trong tổng số 6 thôn của xã bị ngập nước: Pa Dhi, Pa Rum A, Pa Rum B và thôn 2 phải di dời tới địa điểm định cư mới với tổng số hộ là 206, trong đó có 198 hộ người Ka Tu. Hai thôn còn lại của xã Zuoih là Công Đồn và Pa pang sẽ là những thôn nhận cư dân mới từ những thôn ảnh hưởng. Ngoài ra, một số diện tích lúa nương của thôn Vinh, xã Ta Bhing, một phần diện tích của khu bảo tồn thiên nhiên sông Tranh và các vùng khác lân cận cũng bị ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp.
3.2 Kết quả làm việc với UBND huyện Nam Giang
Tại UBND huyện Nam Giang, đoàn công tác đã gặp gỡ và thảo luận với một số lãnh đạo của huyện (danh sách cụ thể xin xem trong phần phụ lục). Kết quả thảo luận cụ thể như sau:
3.2.1. Kế hoạch di dời và đền bù của dự án
Cho tới thời điểm hiện tại Dự án đã có kế hoạch di dời nhưng chưa cụ thể và đang được điều chỉnh cho phù hợp. Theo kế hoạch mới nhất, 4 thôn của xã Zuoih phải di dời về khu tái định cư tại Khe Boong, khe Zuoih, Khe Bua và thôn Pa pang. Người dân thôn 2 muốn chuyển về Pà Păng do nếp sinh hoạt gần giống nhau, đất rộng nên đủ điều kiện để sinh sống nhưng chính quyền không đồng ý do giao thông đi lại không thuận lợi do lòng hồ rộng gây cản trở. Đối với khu tái định cư khe Zuoih, người dân cũng không đồng ý vì khu này thiếu đất sản xuất nông nghiệp, nếu muốn có đất thì phải lấn chiếm rừng phòng hộ và điều này thì không được phép làm.
Đối với kế hoạch đền bù thì lãnh đạo huyện cũng chưa nắm bắt được cụ thể, tuy nhiên Dự án cũng thông báo, một số nơi sẽ không được đền bù bằng tiền mà sẽ được xây dựng lại nhà cửa và đất đai sản xuất như cũ, một số nơi khác được đền bù bằng tiền mặt và giá cả sẽ được áp dụng theo thời điểm thực hiện đền bù.
Khó khăn đối với người dân: thiếu đất ruộng lúa nước cho nhân dân sản xuất, chỗ làm được thì cách xa khu dân cư. Trong xã có thôn Papang sau khi thực hiện dự án, nằm cách biệt với xã do lòng hồ rộng ngăn cách và muốn vào thôn này phải đi đường vòng rất xa.
3.2.2. Nhận xét về những tác động của dự án
Theo như cán bộ huyện Nam Giang, từ năm 2006, Dự án đã tổ chức một số cuộc hội thảo thông báo về kế hoạch của dự án. Theo lãnh đạo huyện thì các cơ quan ban ngành đánh giá khá cao về dự án. Tuy nhiên dự án có tác động lớn đến môi trường sinh thái, môi trường văn hoá, nguồn tự nhiên bị mất đi và bản sắc văn hoá cũng bị mai một.
3.2.3 Mức độ biết thông tin
Tại UBND huyện, khi đoàn khảo sát tìm hiểu thông tin về dự án thì các cán bộ huyện tỏ ra lúng túng và không cụ thể về các thông tin do họ cung cấp. Ngoài ra họ cũng không biết các thông tin gì khác ngoài những thông tin họ biết được qua các cuộc hội thảo được tổ chức tại địa phương. Huyện cũng đã trang bị một số máy tính và hoà mạng internet, tuy nhiên việc sử dụng máy tính để truy cập thông tin là những điều mới mẻ đối với cán bộ ở đây. Cũng trong buổi gặp gỡ, đoàn khảo sát cũng hướng dẫn họ tìm đọc tài liệu, những báo cáo, kế hoạch mới nhất của Dự án qua trang web của Ngân hàng Phát triển Châu Á.
3.2.4. Kết quả thảo luận giữa RDSC và UBND huyện Nam Giang
Cuối buổi thảo luận RDSC và đại diện lãnh đạo huyện Nam Giang đã thống nhất về các hoạt động định hướng của RDSC đối với người dân trong vùng dự án, cụ thể như sau:
- RDSC sẽ chờ tới khi tái định cư ổn định mới thực hiện các hoạt động hỗ trợ và ổn định cuộc sống của người dân
- Xúc tiến việc thực hiện kế hoạch tái định cư và người dân tộc thiểu số của Dự án
- Thúc đẩy sự tham gia của người dân vào các hoạt động này.
3.3 Kết quả làm việc với lãnh đạo thôn Công Dồn, xã Zuoih
Tại thôn Công Dồn, đoàn khảo sát đã có cuộc tiếp xúc và thảo luận với một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong thôn. Họ cho biết, người dân cũng như lãnh đạo trong xã, thôn vừa mừng vừa lo khi có dự án, họ hy vọng khi có dự án thì cuộc sống của người dân sẽ được cải thiện. Bởi vì khi dự án được thực hiện thì cơ sở hạ tầng sẽ được xây dựng như điện, đường, trường học, trạm xá Tuy nhiên họ cũng tỏ ra lo lắng về cuộc sống sau này sẽ không được đảm bảo, thôn Công Đồn theo kế hoạch sẽ tiếp nhận một số hộ gia đình ở các thôn bị ảnh hưởng tới tại định cư. Vì thế đất đai phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất của các hộ gia đình trong thôn sẽ bị thu hẹp để chia cho các hộ mới, trong khi đất đai của một số hộ gia đình trong thôn chưa được cấp bìa đỏ nên họ lo lắng về phương thức đền bù. Họ cũng có ý kiến rằng: các hộ gia đình bị ảnh hưởng được Dự án đền bù thì các hộ gia đình ở thôn nhận cũng được đền bù tương tự, tuy nhiên những ý kiến phản ảnh này chỉ được người dân bàn luận với nhau chứ chưa chính thức được nêu ra đối với những nhà lãnh đạo hay chuyên trách. Có một vấn đề thực tế mà người dân ở đây rút ra được từ bài học của công trình thuỷ điện A Vương được xây dựng trước đó tại xã bên cạnh. Đền bù cho người dân không thoả đáng, nên sau khi hoàn thành công trình, cuộc sống của người dân không đảm bảo. Ngoài ra, do Dự án tự thiết kế và xây dựng nhà ở cho người dân không đúng theo thiết kế truyền thống của người dân nên họ không ở mà dựng nhà khác để ở và họ không có tiền để phát triển kinh tế. Vì vậy đối với dự án này, nhà nước cũng nên đền bù bằng tiền mặt cho người dân tự xây dựng nhà cửa theo ý của họ, sau đó họ dùng số tiền còn lại để thực hiện các hoạt động phát triển kinh tế.
Một vấn đề quan trọng là tới thời điểm hiện tại người dân chưa nắm bắt được kế hoạch di dời, đền bù và các kế hoạch phát triển dân tộc thiểu số do ADB và tổng công ty điện lực Việt Nam chuẩn bị cho thực thi dự án.
Mong ước của người dân là trước khi thực hiện công trình, nhà nước và nhà tài trợ phải thực hiện các hoạt động cụ thể để ổn định cuộc sống cho bà con bà con và đảm bảo chắc chắn cuộc sống của bà con sẽ đi lên, thực hiện đúng những chính sách và cam kết giành cho những người bị ảnh hưởng của Dự án.
4. Kết luận và định hướng của RDSC
Từ một số kết quả thu được trong các cuộc thảo luận với đại diện của UBND huyện Nam Giang và thôn Công Dồn trong chuyến khảo sát sơ bộ này RDSC dự kiến sẽ thực hiện một số hoạt động nhằm giúp đỡ người dân trong vùng dự án thuỷ điện Sông Bung, cụ thể như sau:
Á˜ Cung cấp thông tin cho người dân về dự án cũng như các kế hoạch tái định cư, kế hoạch phát triển dân tộc thiểu số, giới
Á˜ Hỗ trợ người dân tham gia vào các hoạt động định canh định cư
Á˜ Hỗ trợ người dân đưa ý kiến của mình tới nhà nước và nhà tài trợ để họ thực hiện theo đúng cam kết
Á˜ Tham gia giải quyết các mâu thuẫn, xung đột giữa cộng đồng cũ và các cộng đồng mới di dân tới Thực hiện một số hoạt động hỗ trợ người dân trong vùng Dự án ổn định cuộc sống, phát triển kinh tếSố lượt đọc:
81
-
Cập nhật lần cuối:
20/01/2009 01:16:21 PM Bài mới:
 Nuôi giun quế ở cộng đồng thôn Quất và Bồ Xồ 01/04/2012 03:44' PM Nuôi giun quế là một hoạt động bổ trợ để thúc đẩy chăn nuôi gà an toàn
sinh học cho các CLB chăn nuôi của chị em dân tộc Dao và Mường ở hai
thôn vùng cao Quất và Bồ Xồ (xã Yên Lương). Tuy được phổ biến rộng rãi
trên báo chí, trên thực tế, trong gần một nghìn hộ ở xã Yên Lương chỉ có
một hộ nuôi giun quế ở quy mô nhỏ, và một điểm nuôi giun trình diễn ở
Trạm thực nghiệm của Trung tâm RDSC. Cả hai điểm đều chưa đủ điều kiện
để cung cấp giun quế giống cho nhân dân trong xã. Hoạt động tổ chức cộng đồng của dự án CASI 3 tại Yên Lương03/03/2012 12:03' PM Trong tháng 2, Dự án CASI 3 Yên
Lương có những hoạt động về tổ chức cộng đồng ở cấp xã và thôn. Dự án đã tổ chức Ban Quản lý và cộng đồng đã hình thành hai CLB và lãnh đạo của CLB tại thôn Quất (phụ nữ Thổ và Mường) và Bồ Xồ (phụ nữ Dao). Các CLB đã đưa ra kế hoạch hoạt động chi tiết của dự án cho tháng 3/2012. Đại biểu Phù Ninh thăm quan mô hình tín dụng và canh tác bền vững tại xã Yên Lương 22/12/2011 03:10' PM Ngày 30 tháng 11 năm 2011, 50 đại biểu từ cộng đồng ba xã Thạch Thản, Vĩnh Phú và Bảo Thanh huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ cùng Ban Quản lý Dự án VM021 do SRD thực hiện đã tổ chức một chuyến tham quan học tập tới xã Yên Lương. Là một dự án về quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững, VM021 quan tâm tìm hiểu các bài học của Hội Phụ nữ xã Yên Lương về xây dựng và duy trì các tổ hợp tác của nông dân, đặc biệt qua mô hình Quỹ tín dụng phụ nữ xã cho người nghèo, và mô hình phát triển chăn nuôi gia cầm theo hướng thị trường.
Những phiên chợ quê vùng Yên Lương 25/07/2011 07:15' AM
Chợ quê thường họp theo phiên là các thức để người nông dân trao đổi hàng hoá, thường do
chính họ sản xuất với các nông dân vùng khác, hoặc hàng hoá của đô thị
do thương nhân mang tới. Cách thức tổ chức của nông thôn, khác hẳn với
đô thị về thời gian và thời điểm. Những lựa chọn trong baì tóan nuôi gà giống của một gia đình thôn Lục Lương 18/06/2011 03:06' PM Sau tết năm 2011, anh chị Kim-Đào ở thôn Lục lương đã nuôi và bán được hai lứa gà con thành công. Anh chị đã học được toàn bộ kinh nghiệm chăn nuôi gà con và gà thịt tại trạm thực nghiệm của Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn. Anh chị đã có những lựa chọn cho hướng đi trong chăn nuôi gà của gia đình theo những tính toán kinh tế. Bài đã đăng: Hỗ trợ cho người nghèo về trồng lúa tại bốn thôn dân tộc hai xã Thu Cúc và Tân Lập 23/12/2008 05:37' AM Tháng 10 năm 2008, RDSC đã tổ chức đánh giá tác động của Quỹ Hỗ trợ Hộ nghèo tới năng lực thâm canh lúa của nhóm hộ nghèo, khả năng tiếp cận dịch vụ vật tư (gồm phân bón, giống và bảo vệ thực vật) và kỹ thuật khuyến nông. Nhóm đánh giá cũng xem xét năng suất lúa của nhóm tham gia và không tham gia Quỹ vật tư trong vụ mùa năm 2008. Đoàn đánh giá ghi nhận Quỹ Vật tư Hỗ trợ Hộ Nghèo đã cung cấp phân bón đúng thời kì cho cây lúa của những thành viên tham gia phát triển tốt và đạt năng suất, bông hữu hiệu cao hơn hẳn cộng động và những hộ khác trong thôn. Quỹ cũng đã nâng cao kiến thức và kỹ năng thâm canh lúa cho nhóm hộ nghèo. Đoàn đánh giá đề xuất Quỹ cần tư vấn tới bà con nghèo về cách phòng trừ bệnh đạo ôn và cháy rầy, và vận dụng tri thức bản địa về dùng phân chuồng và tro bếp để bón cho lúa. Nhóm đánh giá cũng đề xuất cung cấp phân bón cho tất cả hộ nghèo trong thôn thông qua hoạt động quỹ tín dụng phụ nữ, chứ không phải chỉ một nhóm trong số các họ nghèo. Làm thế nào để cộng đồng tham gia và làm chủ nhân trong hoạt động khuyến nông? 06/12/2008 08:23' AM MôÌ£t trong những thaÌch thưÌc khi RDSC xây dưÌ£ng caÌc traÌ£m thưÌ£c nghiêÌ£m laÌ€ laÌ€m sao ngươÌ€i dân cảm nhâÌ£n traÌ£m thưÌ£c nghiêÌ£m laÌ€ của hoÌ£. HiêÌ£n taÌ£i TraÌ£m tuyển môÌ£t hoăÌ£c môÌ£t vaÌ€i nông dân chủ chôÌt để tham gia chăn nuôi theo hươÌng dẫn của kỹ thuâÌ£t viên vaÌ€ đươÌ£c hưởng ngaÌ€y công. MôÌ£t yÌ tưởng được hình thành trong quá trình thảo luận với lãnh đaọ cộng đồng thôn Chiềng 2 xã Thu Cúc ..... Tìm hiểu về nguôÌ€n taÌ€i trơÌ£ tưÌ€ caÌc đaÌ£i sưÌ quaÌn 04/10/2008 01:24' AM NhiêÌ€u tổ chưÌc phi lơÌ£i nhâÌ£n trong nươÌc đã tiêÌp câÌ£n thaÌ€nh công caÌc đaÌ£i sưÌ quaÌn nươÌc ngoaÌ€i ở ViêÌ£t Nam như môÌ£t nguôÌ€n taÌ€i chiÌnh để hỗ trơÌ£ cho caÌc chương triÌ€nh phaÌt triển của côÌ£ng đôÌ€ng. Những kinh nghiêÌ£m đoÌ đã khuyêÌn khiÌch RDSC tiÌ€m vaÌ€ đưa ra caÌc điÌ£a chỉ thư tiÌn, thư điêÌ£n tử, vaÌ€ trang web của caÌc cơ quan taÌ€i trơÌ£ trong nươÌc nhăÌ€m giúp các tổ chức quan tâm tìm hiểu về các nguồn tài trợ cho các nhu cầu của cộng đồng. RDSC hơÌ£p taÌc vơÌi TrươÌ€ng ĐaÌ£i hoÌ£c Lao đôÌ£ng-Xã hôÌ£i trong đaÌ€o taÌ£o ở bâÌ£c cao đẳng vaÌ€ đaÌ£i hoÌ£c 02/10/2008 09:21' AM NgaÌ€y 2 thaÌng 10 năm 2008, taÌ£i văn phoÌ€ng RDSC HaÌ€ nôÌ£i, đaÌ£i diêÌ£n khoa Công taÌc Xã hôÌ£i vaÌ€ Tổ ThưÌ£c haÌ€nh Công taÌc xã hôÌ£i của khoa đã coÌ cuôÌ£c găÌ£p vaÌ€ thảo luâÌ£n vơÌi lãnh đaÌ£o RDSC vêÌ€ kinh nghiêÌ£m hơÌ£p taÌc trong đaÌ€o taÌ£o sinh viên Khoa Công taÌc xã hôÌ£i năm 2008. Thôn Cón: nhìn lại và định hướng sự hợp tác với RDSC trong giai đoạn 2008-2009 11/08/2008 05:16' AM Ngoài chương trình tín dụng cho phụ nữ nghèo khởi xướng từ thôn Cón và lan tỏa sang cả xã hiện đang hoạt động rất có hiệu quả, lãnh đạo thôn rất tự hào về hai công trình mà cộng đồng thôn hợp tác với RDSC thực hiện trong năm 2006 và 2007. Đó là công trình thủy lợi và Quỹ công trình vệ sinh. Các công trình này đều đem lại lợi ích chung cho cả cộng đồng, nhưng tập trung lợi ích cho những người nghèo nhất, đều được cộng đồng duy trì lâu dài và có tác dụng bất ngờ ngoài dự kiến. Thôn và RDSC đã thống nhất về chương trình hợp tác trong 18 tháng tới. |