1. Đặt vấn đề
Báo cáo này là đánh giá kết quả thực hiện Quỹ Hỗ trợ Người nghèo về vật tư phân bón tại ba thôn thuộc hai xã Thu Cúc và Tân Lập vụ mùa năm 2008.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
• Đánh giá sự tiếp cận và sử dụng các chính sách nông nghiệp (trợ giá, trợ cước) của nhà nước với người nghèo.
• Đánh giá năng lực hiện tại kỹ thuật thâm canh lúa của nhóm hộ nghèo.
• Đánh giá khả năng tiếp cận dịch vụ vật tư (gồm phân bón, giống và bảo vệ thực vật) và kỹ thuật khuyến nông
• Đánh giá năng suất lúa của nhóm hộ và so sánh với các hộ không thuộc nhóm trong vụ mùa nănm 2008
3.GIẢ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
3.1 Giải thuyết nghiên cứu.
Quỹ Hỗ trợ người nghèo về vật tư phân bón thực hiện với hai giải thuyết
Người nghèo thiếu kỹ năng thâm canh lúa nên năng suất lúa thấp. Thông qua hoạt động tư vấn, tập huấn và các cuộc trao đổi kỹ thuật của Quỹ, những thành viên trong nhóm được cung cấp những kiến thức và kỹ năng cơ bản về bón phân, phòng trừ sâu bệnh và thâm canh lúa.
Người nghèo do thiếu vốn mà không tiếp cận được những chính sách trợ giá của nhà nước trong nông nghiệp, thông qua quỹ bảo lãnh vật tư mà người nghèo tiếp cận và sử dụng có hiệu quả những hỗ trợ về chính sách trợ cước trợ giá của nhà nước
3.2. Phương pháp nghiên cứu
Cuộc đánh giá sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính là chủ yếu. Các nghiên cứu viên đã thực hiện phỏng vấn sâu các thành viên trong quỹ và ngoài quỹ, trưởng nhóm, trưởng thôn và những người làm tốt nhất thôn.
3.3. Cơ cấu mẫu
|
|
Người nghèo |
Nam |
Nữ |
|
Trưởng nhóm |
3 |
3 |
0 |
|
Trưởng khu |
0 |
3 |
0 |
|
Thành viên ngoài nhóm |
6 |
3 |
3 |
|
Thành viên trong nhóm |
9 |
3 |
6 |
|
Người làm tốt |
3 |
1 |
2 |
|
Tổng |
21 |
10 |
11 |
Ngoài nghiên cứu định tính, nghiên cứu còn lấy mẫu khảo sát thực tế để đánh giá sơ bộ về bông hữu hiệu và năng suất
Cách lấy mẫu:
a. Lấy mẫu ngẫu nhiên theo năm điểm ở các ruộng của thành viên tham gia và không tham gia quỹ.
b. Lấy mẫu ở những ruộng của hộ sản xuất tốt nhất thôn để so sánh với năng suất các hộ trong cùng vụ.
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Tổng quan hộ tham gia quỹ vật tư
Cả ba quỹ có tổng 52 hộ, 100% là hộ nghèo. Mỗi hộ trung bình có 3.55 sào ruộng lúa.
Về diện tích, thôn Cón có tổng diện tích trung bình/hộ cao nhất (4.4sào), thấp nhất là thôn Chiềng 2 xã Thu Cúc 3.09sào/hộ. Trong các hộ điều tra cũng có hộ có nhiều ruộng tối đa 7.8 sào, nhưng có hộ cũng chỉ có 1.5 sào.
Biên độ diện tích đất sản xuất cuả các hộ ở thôn Chiêng lớn, max-min= 5.2, các thôn khác khoảng cách này chỉ là 4. Diện tích đất nhiều hay ít phụ thuộc vào tuổi của chủ hộ. Các chủ hộ có độ tuổi trên 45 thì có nhiều ruộng hơn hộ có tuổi dưới 40. Vì những hộ trẻ tuổi chỉ có đất của bố mẹ, các con sinh ra sau thời điểm chia đất nên ít ruộng hơn. Những hộ nghèo ở thôn Chiềng thường là hộ mới ra riêng, các lao động chính còn trẻ tuổi.
4.1. Giả thuyết thông qua quỹ bảo lãnh vật tư người nghèo tiếp cận được chính sách trợ giá, trợ cước trong sản xuất nông nghiệp chưa phù hợp.
Mục tiêu ban đầu quỹ hoạt động theo cơ chế bảo lãnh để người nghèo có thể tiếp cận với nguồn giống, phân bón trợ giá của nhà nước. Thực tế các trợ giá, trợ cước của nhà nước không chỉ đối với người nghèo mà đế với toàn cộng đồng. Các lãnh đạo khu, xã đã chia theo hình thức bằng nhau, người này được trợ cấp ngô thì thôi lúa. Mặt khác nhà nước không có trợ cấp, giá về phân bón nên quỹ bảo lãnh đã hoạt động bằng cách cho bà con nghèo vay vốn để đầu tư phân bón theo chu kỹ phát triển của cây lúa.
Sau khi thống nhất quy chế hoạt động, ba thôn đã có 52 thành viên là đại diện hộ nghèo tham gia. Các thành viên được tập huấn kỹ thuật, tư vấn trong các cuộc sinh hoạt theo chu kỳ phát triển cây lúa. Các thành viên sản xuất gần như cùng nhau, hộ cấy muộn so với hộ cấy sớm chệnh nhau 3 ngày. Tổng số vốn đầu tư thực hiện quỹ vật tư là 41.367.000đồng.
Ngay từ đầu, hoạt động của quỹ là cung cấp phân bón và tư vấn kỹ thuật cho người nghèo nên giả thuyết thông qua quỹ giúp người nghèo tiếp cận được các chính sách của nhà nước có hiệu quả không đúng.
Theo ý kiến của trưởng khu, trong vụ mùa 2008, nhà nước có trợ giá ba loại giống đó là: Nhị Ưu 838, Qui Ưu và VL20. Riêng giống VL20 có chính sách nhưng đến vụ không có giống cung cấp cho cộng đồng
Trong số người được hỏi có 12 hộ mua giống trợ giá, mỗi kg rẻ so với thị trường 10nghìn đồng. Có 4 người không mua giống trợ giá do không cấy lúa lai mà cấy lúa thuần (Khang Dân), cũng có 3 người muốn mua nhưng không có tiền đối ứng trước nên mua ngoài thị trường.
Các trợ giá trợ cước về phân bón, thuốc bảo vệ thực vật 100% số người trả lời là không có
Các trưởng khu cho biết trợ giá giống cho người nghèo nhưng khi thực hiện ở thôn xã thì chia đều cho tất cả cộng đồng, vì những hộ khá, trung bình cũng sống trong cùng một địa bàn xã 135.
4.2. Người nghèo vào quỹ với mục tiêu học hỏi kỹ thuật, được trả chậm phân nhưngcũng không thu hút được những người nghèo có năng lực tài chính yếu, chưa tin vào thành công của kỹ thuật
Khi hỏi về lỹ do tham gia quỹ, có 5/9 ý kiến cho rằng khi thấy có lợi được trả chậm tiền phân bón, được tập huấn, tư vấn kỹ thuật nên hộ tham gia để nâng cao kỹ thuật sản xuất. Tuy vậy cũng có 4 ý kiến cho biết vì các vụ trước không có tiền mặt, phải mua chịu với giá đắt hơn thị trường hai đến 3 giá. Cũng có lúc mùa được, lúc không, nên không chủ động được thời kì
Về hộ không tham gia có 2 ý kiến sợ không trả được tiền khi kết thúc vụ. Điều này cho thấy năng lực tài chính của hộ thấp, sợ không dám đầu tư và chưa tin tưởng vào sự thành công của kỹ thuật.
Một hộ vì chồng đi vắng nên không dám quyết định tham gia. điều này cho thấy quyền ra quyết định và dám ra quyết đinh của phụ nữ con hạn chế
Còn một ý kiến thì cho rằng thiếu thông tin, không biết rõ về hoạt động và tổ chức của quỹ.
4.3. Chế độ thâm canh và cung cấp kỹ thuật cho hộ tham gia
Các hộ trong ba thôn đều xây dựng một mức thâm canh: 20kgNPK/sào, 5kg đạm và 4kg kali. Mức phân bón này cũng là cao hơn 50% so với đầu tư của hộ trong các vụ trước. Tuy nhiên, so với mức thâm canh của giống thì lượng phân bón này phù hợp với giống thuần hơn. Trong vụ mùa đa số các hộ cấy lúa lai Nhị ưu 838, mức phân bón đòi hỏi cao hơn.
Mặt khác các hộ sản xuất các vùng đất khác nhau, nên cần thiết phải xây dựng chế độ thâm canh theo khu đất để giảm chi phí ở mộ số thửa, đất xấu không thể đạt năng xuất.
Trong chế độ thâm canh các hộ tham coa bón vôi nhưng chỉ các hộ thôn Cón và 12 hộ thôn Chiềng là bón đúng (20kg/sào), số thành viên còn lại không bón vôi vì đắt và triển khai quá sát với thời vụ.
Ngoài việc triển khai muộn, thì ở xã Thu Cúc cón xảy ra việc chuyển nhầm phân kali của hai thôn Cón và Chiềng 2. Số phân kali của thông Chiềng chuyển sang thôn Cón nên Thôn Cón thì thiếu phân, Thôn Chiềng thừa 50kg. Dẫn đến các hộ sản xuất tại thôn Cón phải mua phân kali ngoài thị trường bón bổ xung theo quy trình xây dựng ban đầu.
Cùng so sánh đầu tư với các hộ làm tốt nhất trong thôn, các hộ này bón mức NPK tương đương, nhưng họ có phân chuồng, trung bình 1 sào họ bón 8-10gánh. Các hộ này đã tận dụng tro bếp thay cho bón kali, có hộ bón hàng tạ tro bếp cho tổng diện tích sản xuất (một hộ làm tốt nhất thôn Chiềng 2)
Trong vụ mùa này các hộ khác không tham gia thì họ đầu tư cũng không khác với các vụ trước: NPK 7-10kg/sào, đạm 3 kg, không bón kaly và vôi
Theo quy ước ban đầu, các hộ được tư vấn định kì theo chu kì phát triển cây lúa. Nhưng thực tế tại Tân lập cũng chỉ có tập huấn 1 lần trong suốt vụ.
Tại Thu Cúc các thành viên khẳng định Khuyến nông xã là người chuiyển giao kiến thức, kỹ năng. Khuyến nông xã đã cùng cộng đồng thăm đồng, phân tích cho thành viên về phương pháp phòng bệnh cho lúa.
Tất cả các thành viên được hỏi có 9 người khẳng định phương phpa tập huấn dễ hiểu, đã chỉ cho cộng động cách phát hiện sâu bệnh. Các cuộc tập huấn có tài liệu dễ đọc và đầy đủ. Nhưng có 5 thành viên cũng đề nghị cần chia nhỏ hơn nữa và đi sâu cùng cới cộng đồng trong thăm đồng và phòng bệnh
4.4. Năng lực kỹ thuật của hộ ngheo có tăng nhưng về phòng trị bệnh cho lúa thì phải kèm cặp và cùng làm nhiều hơn nữa.
Khi đề nghị các thành viên tự đánh giá về năng lực sản xuất lúa, 9 ý kiến khẳng định có thể chủ động được bón phân, và bón đúng theo chu kì phát triển cây lúa. Nhưng cũng có 7 ý kiến chưa xác định được thời điểm bón đón dòng vì thời điểm này rất khó nếu không bón đúng sẽ bị lốp đổ.
Về khả năng phát hiện sâu bệnh tất cả thành viên tham gia và không tham gia đều chưa có thể tụ phát hiện được thời điểm trừ sâu, chưa phân biệt được bệnh đạo ôn và cháy rấy, chưa xác định được thời điểm nở rộ của sâu đục thân, sâu cuốn lá. điều này được thể hiện khi tôi đi thăm đồng, đếm mộ ruộng nàh chị làm tốt nhất ở Thôn Chiềng 2 1m2 có tới 4 bông bạc chiếm 3 % do không diệt được sâu đục thân cho du đã phun thuốc hai lần
• Ngoài việc chưa thể phân biệt, phát hiện sâu bệnh thì các loại phân, thuốc trừ sâu bệnh cũng là vấn đề. Anh Tý trưởng nhóm Chiềng 2 cho biết: “trên thị trường có những loại phân kali khác nhau nhưng không biết phân nào là tốt”
Từ đó cho thấy năng lực kỹ thuật của người nghèo có tăng, nghèo nghèo có thể tự bón phân nếu chủ động được phân bón nhưng kể cả có thuốc bảo vệ thực vật thì họ cũng chưa có khả năng sử dụng đúng loại, lượng và đúng thời kì được.
4.5. Lúa tốt cũng do thời tiết và do phân bón đúng đủ và kịp thời
Trong vụ mùa năm 2008, thời tiết khá thuận lợi, mưa thuận hoà. Vì vậy cây lúa phát triển tốt và kèm theo nhiều sâu bệnh và chuột phá hại.
Lúa của các thành viên tham gia quỹ vật tư đẻ nhiều nhánh, lúa cứng cây, quả chắc và sáng hạt. Ngoài ra có 5 thành viên nhận xét lúa cứng cây không đổ, trừ 1 hộ có ruộng quá trũng.
Những hộ cấy lúa thuần Khang Dân thì cũng có nhiều hạt lép ở phần cổ bông, năng suất thấp hơn so với lúa lai.
4.6. Đánh giá năng suất và yếu tổ cấu thành năng suất
Trong thời điểm đi đánh giá thì ở Thu Cúc lúa vào chắc, còn Tân Lập các hộ đã thu hoạch. Vì vậy tại Thu Cúc tiến hành đánh giá thực tế bông hữu hiệu một trong yếu tố quan trọng để đánh giá năng suất, người dân tự đánh giá năng suất lúa của hộ tại Mít 1 Tân Lập
Đánh giá bông hữu hiệu tại ruộng của hộ tham gia được số bông hữu hiệu trên/khóm trung bình đạt 7.2 bông/khóm, Số bông hữu hiệu đạt cao nhất là 8 bông/khóm, thấp nhất 6bông/khóm.
Ruộng của hộ khá, đếm 80 khóm/4 hộ, số bông hữu hiệu đạt trung bình 6.0bông /khóm, số bông hữu hiệu cao nhất là 7 bông/khóm, thấp nhất là 4 bông/khóm.
Đánh giá ruộng hộ nghèo không tham gia quỹ số bông hữu hiệu đạt trung bình 6.3 bông/khóm, số bông đạt cao nhất là 8 bông, thấp nhất 6 bông/khóm.
Đánh giá năng suất thực mà các hộ đã thu hoạch lúa tại Mít 1. Các hộ tự đánh giá năng suất tăng so với vụ trước từ 130kg lên 190kga/sào, các hộ đều đánh giá năng suất cao là nhờ có phân bón đúng và kịp thời
Đánh giá năng suất được thể hiện qua các biểu đồ 1, 2,3 (xin liên hệ với tác giả)
Kết quả khảo sát từ hiện trường và phỏng vấn các hộ gia đình cho thấy:
1. Năng suất lúa của các hộ tham gia quỹ vật tư tăng trung bình 25% So với vụ mùa 2007.
2. Trung bình Năng suất lúa của hộ tham gia quỹ vật tư cao hơn hộ không tham gia quỹ 34% (trong vụ mùa 2008).
3. Đầu tư của các hộ tham gia quỹ trong mùa 2008 tăng so với hộ không tham gia là 81%
4.7. Năng suất lúa của người nghèo đã tăng những hoạt động quỹ cần phải có nhứng điểm thay đổi.
• Thời vụ triển khai cần sơm hơn, để thông nhất định mức và giống thâm canh
• Giá cả vật tư cần có sự thống nhất, và gia phải phù hợp với thị trường tại các thời điểm cấp phân bón, vôi.
• Các hộ nghèo chưa bón phân chuồng cần tập huấn kỹ thuật làm phân trộn để cung cấp phân cho lúa, giảm chi phí phân hoá học
• Tập huấn kỹ thuật phải chia nhỏ và giải theo chu kỳ nhất là phòng trừ sâu bệnh và bón phân.
5. Kết luận và khuyến nghị
Quỹ Hỗ trợ Người nghèo về Trồng trọt đã cung cấp phân bón đúng thời kì cho cây lúa của những thành viên tham gia phát triển tốt và đạt năng suất, bông hữu hiệu cao hơn hẳn cộng động và những hộ khác trong thôn.
Quỹ cũng đã nâng cao kiến thức và kỹ năng thâm canh lúa cho nhóm hộ nghèo, nhưng phong trừ sâu bệnh cần phải tư vấn và thay đổi hình thức chuyển tải tới bà con.
RDSC nên thay đổi phương thức hoạt động chuyển từ cung cấp phân bón cho một nhóm hộ nhất định sang tất cả hộ nghèo trong thôn thông qua hoạt động quỹ tín dụng phụ nữ.