Trạm thực nghiệm mô hình nông nghiệp quy mô thôn
Đặng Ngọc Quang
Báo cáo từ Thanh Sơn, Phú Thọ
Ngày 14 tháng 1 năm 2008
Phần 1. Đặt vấn đề
1.1. Bối cảnh
Báo cáo này tập hợp các quan sát và phân tích thu lượm từ ba trạm thực nghiệm do RDSC Phu Tho xây dựng tại Phú Thọ trong năm 2008. Các kết quả quan sát được so sánh với những quan sát tại trạm mô hình của RDSC tại Kontum. Khởi đầu tại thôn Kon Jri xã Dak R wa, tỉnh Kon TumTrại thực nghiệm mô hình nông nghiệp thôn bản là một phương thức chuyển giao kỹ thuật bổ trợ cho cộng đồng, được RDSC thực hiện từ tháng 6 năm 2007. Hiện tại Trạm đang thể hiện những khả năng thực hiện hoạt động nâng cao năng lực phát triển cộng đồng và vận động chính sách ở cấp cơ sở.
Tại huyện Tân Sơn và Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ, trạm thực nghiệm mô hình nông nghiệp quy mô thôn được Trung tâm Dịch vụ Phát triển nông thôn xây dựng tại ba thôn: thôn Chiềng 2 xã Thu Cúc (tháng 7 năm 2008), Lục Lương (còn gọi là Khu Bảy) xã Yên Lương (bắt đầu xây dựng từ tháng 9 năm 2009), thôn Mít 1 xã Tân Lập (tháng 9 năm 2008). Các Trạm mô hình được tổ chức thực hiện trong các thôn mà RDSC cam kết hỗ trợ nhóm hộ nghèo nhất trong thôn cải thiện thu nhập thông qua các biện pháp chuyển giao kỹ thuật, ví dụ tập huấn về trồng lúa, tập huấn về trồng rau, hoa màu và chăn nuôi. Cũng trong các thôn, RDSC cũng hỗ trợ các hộ nghèo nhất về tổ chức quỹ quay vòng lương thực và bảo lãnh cho các hộ gia đình được nhận giống và vật tư được trợ giá của nhà nước.
Các thôn này nằm trong một chương trình phát triển cấp xã bao gồm Quỹ tín dụng phụ nữ và mạng lưới thú y do RDSC xúc tác.
1.2. Vấn đề mà Trạm thực nghiệm giải quyết
Mô hình trạm được đưa ra nhằm góp phần khắc phục các nhược điểm của hệ thống khuyến nông thông thường đã được phát hiện tại Hội thảo Chia sẻ Kinh nghiệm Khuyến nông cho người Nghèo tổ chức tại Thanh Thủy tháng 7 năm 2007, cũng như các tọa đàm về khuyến nông năm 2008. Các điểm yếu của các mô hình khuyến nông thông thường là thực hiện với các hộ gia đình khá (để đảm bảo khả năng thành công cao), người thực hiện không thể chủ động quản lý việc tuân thủ về quy trình kỹ thuật, mức độ bao cấp cao, các tiến bộ kỹ thuật chưa được thử thách trong điều kiện của cộng đồng. Một hệ quả thường gặp là các mô hình đó ít có khả năng nhân rộng và ít phục vụ lâu dài ở cộng đồng, nhất là với người nghèo và phụ nữ. Các hạn chế của mô hình khuyến nông hiện tại xuất phát từ tiếp cận từ trên xuống, coi khuyến nông là nguồn lực từ bên ngoài cộng đồng không xuất phát từ nhu cầu và năng lực của cộng đồng, nói khác đi là sự ban cấp của ngành khuyến nông hoặc nông nghiệp huyện tỉnh.
Trạm thực nghiệm mô hình cũng là một phản ứng của Dự án Tăng cường Sự tham gia của Nhân dân trong Phát triển Kinh tế Xã hội với những kết quả không đồng nhất của hợp phần phát triển chăn nuôi gia súc nhỏ tại Thanh Thủy, Thanh Sơn và Tân Sơn theo quy mô hộ gia đình. Đàn thỏ phát triển theo quy mô hộ (cùng với cây thức ăn gia súc như chè đại và các loại cỏ trồng) thực hiện với các gia đình nghèo ở huyện Thanh Thủy đã hoàn toàn không được duy trì, và không tồn tại sau hơn một năm triển khai. Đàn dê thực hiện quy mô hộ gia đình ở các xã thuộc huyện Tân và Thanh Sơn cũng có sự phát triển không đồng đều về số đầu gia súc.
3. Mô tả quan điểm hình thành và phát triển Trạm
3.1. Mục tiêu
Trạm có mục tiêu là trở thành một tập hợp các tiến bộ kỹ thuật đã được thử thác ở cộng đồng để tại chỗ cho cộng đồng nông dân nghèo, dân tộc. Trạm cũng phối hợp với khuyến nông xã, lập kế hoạch lựa chọn và thử nghiệm các tiến bộ kỹ thuật tại trạm, trước khi đưa vào cộng đồng. Trạm cũng là một địa điểm cùng với cộng đồng thực hiện các thí nghiệm áp dụng tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp do người dân trong thôn đề xuất.
Với quy mô sản xuất phù hợp với một hộ gia đình, đặt trong lòng cộng đồng, mức đầu tư thích hợp với chương trình 135 giai đoạn 2, và có khả năng tự duy trì và phát triển bền vững, RDSC dự kiến sẽ giới thiệu các Trạm Thực nghiệm mô hình với các cơ quan phát triển nông thôn, miền núi, dân tộc trong hai huyện, và trong tỉnh để chia sẻ kinh nghiệm và vận động nhân rộng, sau một năm triển khai và khi có kết quả thuyết phục.
3.2. Các nguyên tắc thiết kế và thực hiện
Tại ba trạm thực nghiệm mô hình, hoạt động khuyến nông được thực hiện theo nguyên tắc dựa vào cộng đồng. Trạm mô phỏng toàn bộ như một hệ thống canh tác của hộ gia đình. Các hợp phần của trạm bao gồm khu vực sinh hoạt, khu vực vệ sinh, khu vực trồng trọt và khu vực chăn nuôi. Các công trình được xây dựng theo nguyên tắc phù hợp với hoàn cảnh của người nông dân nghèo, nhưng vẫn đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật. Ví dụ khu chuồng nuôi lợn nái thoáng mát, mái lá cọ, nền lát xi măng, có khu chơi, và nền dốc để thoát nước. Khung chuồng lợn làm bằng tre, và chuồng được bao bằng bạt sợi hóa học để chống gió rét, có máng ăn và máng uống, có khu vực chứa và sử lý phân rác. Khu chuồng thỏ và chuồng nuôi gia cầm cũng làm tương tự.
Với những vật nuôi là gia súc nhỏ (lợn nái giống Móng Cái và thỏ) nuôi nhốt, trạm đặt ra mục tiêu tạo ra ra được một nguồn giống có chất lượng tốt với giá cả phù hợp để cung cấp cho cộng đồng. Đàn gia súc được tổ chức với 9 lợn nái và một lợn được, theo tính toán đủ cung cấp giống cho một thôn, và về lâu dài khi đàn nái phát triển trong thôn thì cung cấp giống trong xã. Với đàn thỏ, quy mô đàn thỏ giống là trong phạm vi 80 con, trong đó có 10 con đực. Hiện tại tại Thu Cúc đàn lợn nái và đàn thỏ đã đủ số lươngj dự kiến, còn ở Tân Lập và Yên Lương, hai trạm mới nhận đủ lượng thỏ giống trong tháng 1 năm 2009.
Trại cũng duy trì vườn rau để tạo thêm thu nhập và làm trồng cây thức ăn gia súc. Các cây rau được trồng có cải bắp, su hào, cà rốt, được trồng chính vụ hoặc trái vụ để. Các vườn rau đều được trồng tại cả ba trạm.
Các tiến bộ kỹ thuật được thực hiện ở trạm là những kỹ thuật hiệu quả nhất đã thực hiện ở các hộ khá đã áp dụng thành công cho cộng đồng. Trạm tổ chức các buổi tọa đàm chuyên đề, ví dụ kỹ thuật cho heo nái ăn, trong đó các hộ chăn nuôi giỏi giới thiệu các tiến bộ kỹ thuật đã áp dụng thành công. Các tiến bộ do người dân trong thôn đã thử nghiệm và áp dụng thành công trong thôn qua đó được phổ biến trong cộng đồng, có nhiều người nghèo, và được thực hiện ở trạm cho mọi người tham khảo.
Các tiến bộ kỹ thuật được vận dụng ở trạm trên cơ sở áp dụng tối đa những kỹ thuật sản xuất sạch, với các phương pháp quản lý sau bệnh bằng chất hữu cơ, như các loại lá cây, quả địa phương. Trạm tổ chức ủ để dùng phân chuồng và phân xanh, phân vi sinh. Trạm cũng trồng cây thức ăn gia súc, như cây vông nem, cỏ voi, cỏ sả, cỏ jumbo, chè đại, cây đậu để làm thức ăn cho lợn và thỏ.
Trạm cũng chú ý đến khía cạnh về quản lý kinh tế để tăng khả năng tự trang trải của trạm. Các mô hình được tính toán về mặt kinh tế, ví dụ chi phí đầu tư về giống, phân bón, thu nhập được theo dõi và tính toán để giúp bà con có thêm hiểu biết về hạch toán kinh tế. Trạm tận dụng bờ rào trồng cây thức ăn gia súc như vông nem, chè đại, dâm bụt, chuối, cúc tần làm bờ rào xanh, đồng thời làm thức ăn cho lợn nái và thỏ. Các cây thức ăn như khoai lang, cây đậu tương lạc cũng được trồng với đa mục tiêu về thu nhập và thức ăn gia súc. Thức ăn tinh cho gia súc là ngô, và sắn mua ở cộng đồng và được nghiền và chế biến cho lợn và thỏ.
3.3. Lao động và quan hệ cộng đồng
Các trạm đã tuyển ba lao động là người trong nhóm hộ nghèo tại cộng đồng để khuyến khích việc tiếp nhận kỹ thuật tiến bộ với các hộ nghèo, thúc đẩy việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào người nghèo, phụ nữ, và tạo thêm thu nhập cho người nghèo. Các lao động này được tuyển trên cơ sở thảo luận với cộng đồng về tiêu chí tuyển chọn và quyết tâm của cộng đồng và người lao động đại diện cho thôn xây dựng một mô hình mẫu mực về sản xuất nông nghiệp bền vững trong thôn, trong xã và huyện.
Để góp phần giáo dục kỹ thuật cho thanh thiếu niên, và tăng cuòng sự tham gia của cộng đồng, trạm tổ chức cho thanh niên và thiếu niên đỡ đầu cho đàn thỏ. Các em thiếu nhi được hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi thỏ, tham gia thu hái thức ăn cho thỏ, và được chia con giống khi thỏ sinh sản, để sản xuất ở gia đình, góp phần cải thiện thu nhập gia đình. Ở Thu Cúc có 12 em (6 nữ) tuổi từ 7-15, đều từ các gia đình nghèo, tham gia hoạt động này. Từ tháng 2 năm 209, theo nguyện vọng của các em được thực hành thêm cho các buổi học vi tính chỉ có lý thuyết trên lớp, các em được học tập thêm vi tính trên máy của Trung tâm đặt tại trạm.
Là một điểm khuyến nông của cộng đồng, Trạm hợp tác với Mạng lưới Chăn nuôi Thú y Liên huyện, cũng do Trung tâm RDSC thúc đẩy tổ chức để bảo đảm chăm sóc sức khỏe cho đàn gia súc. Trực tiếp hỗ trợ về thú y cho trạm là thú y xã, là những người đã tham gia các khóa tập huấn thú y sơ cấp và nâng cao của Trung tâm. Hội Phụ nữ thôn đóng góp mỗi người một cây chuối để trồng quanh bờ rào. Các hộ mô hình trồng chè đại, trồng cỏ voi và cỏ ghi nê cung cấp giống cây cho Trạm.
4. Những bài học về những điểm dang dở và rủi ro
So với mục tiêu trở thành một điểm trình diễn mẫu mực về kỹ thuật, trong thời gian triển khai gần nửa năm, các trạm cho nhiều bài học kinh nghiệm của giai đoạn phát triển ban đầu. Các bài học có thể thu được ở thiết kế và xây dựng hạ tầng chuồng trại, tiến trình triển khai các hạng mục, quản lý lao động, và quan hệ cộng đồng.
4.1. Bài học về hạ tầng sinh hoạt và học tập
Các công trình vệ sinh được xây dựng đơn giản, nhưng hợp vệ sinh, hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh của các hộ nghèo trong cộng đồng. Các hố xí làm theo kiểu hố xí hai ngăn có bệ xây, mái che và quây bằng tre đan bao quanh. Các hố xí đều cách khu nhà ở và giếng nước trên 15 mét. Tuy nhiên, các hố xí lại thiếu hụt nắp đậy, hố đựng nước tiểu, hố đựng chất lấp phân, ví dụ như trấu. Đây cũng là những điểm cần hoàn thiện.
Tiến trình làm nhà cũng cần được chú ý. Phên nhà đều đan nong kép hai, chắc chắn. Nhưng những tấm đan ở Thu cúc thực hiện vào thời kỳ tháng 7 Dương lịch đều bị mọt. Còn các tấm đan ở Yên lương và Tân lập thực hiện vào tháng 12, mùa khô thì không mối mọt và theo trưởng thôn thì có thể dùng được trên 5 năm. Việc chọn mùa để đan lát rõ ràng cần được tính đến.
Do các nguyên liệu làm nhà nuôi gia súc và nhà học tập sinh hoạt của Trạm đều là vật liệu dễ cháy, việc phòng hỏa hiện chưa thấy đặt ra, nhưng cần phải đặt ra sớm ngay từ đầu. Nguy cơ về hỏa có thể đến từ việc khu vực chứa xăng dầu, hoặc từ các dây điện, và từ bếp nấu cũng như từ thuốc lá của khách và người lao động. Các Trạm cần có quy ước về phòng chống cháy và cần viết, in ấn công khai cho mọi người tuân thủ. Việc bảo đảm nước phòng cháy trong các bể nước lân cận cũng cần đảm bảo.
4.2. Bài học về chuồng trại
Về chuồng trại, các trạm ở Phú thọ đã có ưu điểm là làm nhà nuôi thỏ bằng tre gỗ, mái lá, nền xi măng phù hợp với điều kiện của các hộ nghèo. Cũng giống như ở Kon Tum, các phía của nhà thỏ có thể được che chắn gió mưa bàng bằng tấm phủ ni-long đan. Các nhà thỏ có rãnh nhỏ rộng 20 Cm quanh nhà, không thuận tiện cho việc quét và dọn phân rác trong chuồng thỏ. Lẽ ra, theo mô hình của nền nhà thỏ ở Kon Tum, nên làm rãnh hình thang ngược và nền có độ dốc hướng vào rãnh để gom rác và phân, rồi dùng trang gỗ để đẩy rác và phân xuống hố ở cuối chuồng.
Các trạm ở Phú Thọ có ưu điểm là làm chuồng thỏ bằng tre , gỗ và đã có máng ăn, máng uống làm bằng các nguyên liệu địa phương. Tuy nhiên, các trạm ở Phú Thọ không tiếp thu được kiểu thiết kế chuồng trại hợp lý cho thỏ của Chi nhánh Kon Tum. Chuồng thỏ làm phần chân quá thấp (chỉ khoảng 20cm), khó quét dọn, và phần thân chuồng quá cao, không thuận tiện cho việc bắt thỏ để theo dõi và quan sát. Chuồng thỏ cũng làm quá rộng và nhốt nhiều thỏ một ô, làm hạn chế khả năng phát triển của thỏ, và dễ làm bệnh lây lan khi xuất hiện. Ở các trại ở Phú Thọ đã làm quá nhiều ô thỏ làm thành một dẫy chuồng, khiến cho việc xê dịch sắp xếp chuồng thỏ rất khó khăn. Điều đáng chú ý là các sai sót ở Thu Cúc về nhà thỏ và chuồng thỏ khi đã được phát hiện và ghi nhận, nhưng vẫn bị lặp lại ở Tân Lập và Yên lương.
4.3. Bài học về trồng và thu hái cây thức ăn gia súc
Về tiến trình, ở các trạm thực nghiệm việc trồng cây thức ăn gia súc đều thực hiện chậm hơn nhiều so với thời điểm mua lợn và thỏ. Các cây thức ăn gia súc do Trung tâm tổ chức trồng tại các nhóm hộ gia đình, như cỏ voi, chè đại (chè khổng lồ), các loại cỏ ghi-nê v.v. hoặc các loại cây làm thức ăn cho thỏ, đều được trồng chậm. Đây chính là các công việc cần hoàn thiện tiếp của các trạm, điều này có nghĩa là phải từ 3-6 tháng các trạm mới bắt đầu có cây thức ăn gia súc tự cung cấp. Để đảm bảo cho gia súc có thức ăn đặc biệt là vào vụ rét, các trạm cần tổ chức trồng các cây thức ăn cho gia súc quanh bờ rào, trồng hàng rào xanh kiêm thức ăn gia súc bằng các cây dâm bụt, cúc tần, vông nem, keo đậu. Trồng cây chắn gió như chuối. Việc trồng cây hoa màu kiêm thức ăn gia súc như đậu tương lạc, ngô cũng cần phải quy hoạch.
Việc nhận thiếu nhi trong cộng đồng chăm sóc thỏ có ý nghĩa giáo dục tình yêu vật nuôi, và hướng dẫn kỹ thuật nông nghiệp thực hành. Các em thu dọn và làm vệ sinh chuồng trại, và kiếm thức ăn cho thỏ. Đổi lại, các em được nhận thỏ con khi thỏ mẹ sinh sản. Việc tiếp nhận và phân loại số lượng và chất lượng thức ăn cho thỏ của các em chưa được tổ chức và là việc cần làm sớm.
4.4. Bài học về hiệu quả kinh tế
Hiện tại, các cán bộ phụ trách trạm chưa lên được kế hoạch đầu tư, các chi phí cần thiết trong giai đoạn thiết kế, và vận hành, cũng như khả năng về thu nhập để trang trải của Trạm. Các cán bộ phụ trách trạm cần có dự toán thu chi cụ thể với các hoạt động tại trạm để có cứ liệu thuyết phục cụ thể về tính bền vững, khả năng tự trang trải và sinh lời của Trạm.
4.5. Bài học về sự hợp tác và tham gia của cộng đồng
Một bài học khác về sự tham gia và tính sở hữu của cộng đồng đối với Trạm thực nghiệm. Tại Thu Cúc, việc tuyển chọn lao động cho Trạm được cán bộ giám sát cho biết không được thực hiện với sự tham gia của cộng đồng. Người lao động đã chưa làm hết các nhiệm vụ của mình và đặt đàn gia súc của trạm cũng như vườn rau của Trạm trước rủi ro thất bại. Việc đạt được sự đồng thuận của cộng đồng và sự tham gia của cộng đồng có tính sống còn với hoạt động của Trạm, vì một khi bị coi là một vật thể lạ xâm nhập vào cộng đồng thì Trạm, gia súc, gia cầm, cây trồng, và các tài sản khác, luôn có nguy cơ bị phá hoại hoặc lấy trộm.
Các công nhân tuyển làm việc cho trạm đều có chưa có kỹ năng về chăn nuôi thỏ, cũng như có kỹ năng hạn chế về chăn nuôi lợn nái. Việc tập huấn và giám sát các kỹ năng chế biến thức ăn và cho gia súc ăn, theo dõi và chăm sóc đàn gia súc, vệ sinh chuồng trại, kiểm soát bệnh dịch là việc mà cán bộ kỹ thuật của RDSC phải làm thường xuyên. Với Trạm Thu Cúc, do cán bộ phụ trách không có chuyên môn nông nghiệp, việc này cần thực hiện với sự giúp đỡ của người có chuyên môn giỏi của xã hoặc từ cộng đồng. Một thách thức nữa là nhóm các hộ nghèo mong muốn luân phiên làm việc tại trạm vì có nguồn việc làm ổng định, và hộ muốn chia sẻ lợi ích (thu nhập theo ngày công, và kỹ năng học tập được) từ vị trí làm việc này. Điều này cũng đòi hỏi trạm phải có khả năng đào tạo công nhân.
Với các hộ nông dân giỏi trong và ngoài thôn, xã, huyện, các trạm cũng có tiềm năng thu hút kiến thức kỹ năng của họ để cọ xát và trao đổi với các nông dân trong nhóm nghèo trong cộng đồng. Các thời điểm tọa đàm kỹ thuật có thể chọn sao cho phù hợp với các hoạt động của thời vụ, hoặc thời tiết, ví dụ thời điểm ủ giống lúa, bón lót, bón thúc, bón đón đòng, thời điểm có nhiều sâu bệnh, thời điểm làm ngô vụ đông, hoặc khi bệnh của gia súc. Hiện tại, ở giai đoạn đang hình thành, điều này vẫn còn chưa được thực hiện thường xuyên, nhưng cần chú ý để đưa vào hoạt động vận hành định kỳ của Trạm.
Khả năng lồng ghép hoạt động của Trạm với các chương trình khuyến nông của chính quyền huyện và xã cũng là một điểm cần chú ý. Cán bộ kỹ thuật của Trạm có thể thảo luận và cùng lập kế hoạch khuyến nông với lãnh đạo thôn, khuyến nông xã, khuyến nông huyện về việc triển khai thử nghiệm các tiến bộ kỹ thuật, và sử dụng hạ tầng của Trạm như một điểm để truyền thông, hoặc chuyển giao kỹ thuật. Hiện tại mỗi trạm có một tủ sách, nhưng còn thiếu sách khuyến nông, hoặc kỹ thuật nông nghiệp. Là một điểm học tập ở cộng đồng, Trạm cũng có thể dùng các giấy to vẽ kẻ các công thức kỹ thuật về chế biến thức ăn gia súc, phương thức phòng chống bệnh dịch hại, như những tài liệu phổ biến kỹ thuật trong trạm.
Các sinh hoạt tập thể với các hộ nghèo trong thôn cũng có thể là các diễn đàn để phổ biến và thảo luận (với các lãnh đaọ chính quyền, đoàn thể cấp thôn, xã) về các chương trình hỗ trợ nông dân nghèo, các chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn. Hiện tại nội dung này chưa được triển khai trong năm thứ nhất, nhưng cần thực hiện trong năm thứ hai, và định kỳ về sau này.
5. Kết luận
Là một thử nghiệm về phương pháp khuyến nông mới, Trạm Thực nghiệm Mô hình Nông nghiệp tuy ở giai đoạn xây dựng ban đầu, nhưng đã thể hiện những khả năng lớn trong hoạt động khuyến nông và vận động chính sách giảm nghèo ở cộng đồng. Với mức đầu tư của 3 trạm ở mức khoảng 600 triệu đồng trong năm đầu tiên, không kể chi phí cho cán bộ kỹ thuật, Trạm đã tỏ ra có nhiều triển vọng tích cực trong việc thực hiện các mục tiêu và chức năng được thiết kế ban đầu. Tiến trình thử nghiệm cần việc theo dõi và giám sát chặt sẽ để đảm bảo các kết quả diễn ra theo mong đợi, và tránh được những sai sót không nên có của việc thực thi ý tưởng. Trạm còn nhiều việc còn dang dở, nhất là về cây thức ăn gia súc, sửa và hoàn thiện chuồng gia súc và nhà nuôi gia súc, cũng như những hoạt động khuyến nông cùng cộng đồng cần được hoàn thiện và tiếp tục trong thời gian tới. RDSC cần gắn kết quả hoạt động của Trạm với việc khen thưởng cho cán bộ. Số lượt đọc:
134
-
Cập nhật lần cuối:
15/05/2009 06:39:12 AM Bài mới:
 RDSC và CARE thoả thuận về thực hiện “Dự án hỗ trợ phụ nữ nghèo dân tộc Dao20/01/2012 12:19' AM Ngày 16 tháng 12, RDSC và CARE đã ký các văn bản thoả thuận về thực hiện sáng kiến “Dự án Hỗ trợ phụ nữ nghèo dân tộc Dao thôn Bồ Xồ và Quất tổ chức câu lạc bộ sản xuất gà an toàn sinh học theo quy mô hàng hoá nhỏ định hướng thị trường”, một trong bốn giải thưởng của năm 2011 của Chương trình CASI III được chọn từ hơn 40 ứng viên của các tỉnh miền núi phía bắc. Trung tâm RDSC đã làm các thủ tục xin phê duyệt dự án với UBND tỉnh Phú Thọ từ ngày 30 tháng 12 sau khi hoàn tất các thủ tục mở tài khoản và ký kết các thoả thuận tài chính với CARE và cả ngân hàng. Nhìn lại chương trình thực tập sinh năm 2011 27/12/2011 08:07' PM RDSC có thế mạnh với việc tổ chức thực tập cho sinh viên những năm cuối, và cho nông dân. Với lợi thế là một đơn vị nằm trong cộng đồng dân tộc miền núi có đa dạng về các nhóm sắc tộc và loại hình sinh kế, thực tập sinh có điều kiện trải nghiệm và tự xây dụng cho mình hiểu biết về tổ chức chính quyền địa phương, cấu trúc xã hội ở cộng đồng. Sinh viên có thể tiếp xúc trực tiếp với các chất liệu học tập, nghiên cứu theo các chủ đề về nông thôn, nông nghiệp, an sinh xã hội, về xã hội học nông thôn, dân tộc học, và truyền thông. Giới thiệu Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn RDSC06/02/2011 12:44' AM Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn (RDSC) được thành lập nhằm góp phần vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đặc biệt hướng về mục tiêu giảm nghèo ở vùng nông thôn. Đại biểu Phù Ninh thăm quan mô hình tín dụng và canh tác bền vững tại xã Yên Lương 22/12/2011 03:10' PM Ngày 30 tháng 11 năm 2011, 50 đại biểu từ cộng đồng ba xã Thạch Thản, Vĩnh Phú và Bảo Thanh huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ cùng Ban Quản lý Dự án VM021 do SRD thực hiện đã tổ chức một chuyến tham quan học tập tới xã Yên Lương. Là một dự án về quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững, VM021 quan tâm tìm hiểu các bài học của Hội Phụ nữ xã Yên Lương về xây dựng và duy trì các tổ hợp tác của nông dân, đặc biệt qua mô hình Quỹ tín dụng phụ nữ xã cho người nghèo, và mô hình phát triển chăn nuôi gia cầm theo hướng thị trường.
Toàn quyền Canada David Lloyd Johnston đến thăm Việt Nam 23/11/2011 09:59' PM Để chào mừng ông toàn quyền Canada David Jolston trong chuyến đi thăm Việt Nam 16-20 tháng 11 năm 2011, RDSC điểm lại quan hệ hợp tác của mình với Canada từ ngày thành lập tới nay để ghi nhận những đóng góp của Canada với RDSC và qua đó tới cộng đồng người dân Việt Nam. Những dòng viết này cũng là lời cảm tạ với những cán bộ trong nước và quốc tế hoạt động trong lĩnh vực đào tạo, nâng cao năng lực đã đóng góp cho các hoạt động của RDSC trong những năm qua.
Bài đã đăng: Yêu cầu về năng lực chuyên môn với cán bộ phát triển cộng đồng ở RDSC 21/10/2008 02:04' PM Bài viết đưa ra các RDSC mong đợi về kiến thức và kỹ năng của các cán bộ nhân viên làm việc ở Trung tâm. Với nhiều cán bộ của chúng tôi đây là những đích về nghề nghiệp được hướng tới. Đội ngũ cán bộ khoa học RDSC tính đến 21 tháng 10 năm 2008 04/10/2008 01:59' PM (CâÌ£p nhâÌ£t đến 21 tháng 10 năm 2008)
HiêÌ£n taÌ£i, RDSC có 12 cán bộ phân bổ trong ba văn phoÌ€ng taÌ£i HaÌ€ NôÌ£i, PhuÌ ThoÌ£ vaÌ€ Kon Tum. TâÌt cả laÌ€ caÌn bôÌ£ đêÌ€u laÌ€ chiÌnh nhiêÌ£m vaÌ€ quôÌc tiÌ£ch ViêÌ£t Nam. RDSC coÌ 7 cán bộ nữ. CoÌ 2 cán bộ ở Hà Nội, 6 cán bộ ở Phú Thọ, và 4 cán bộ ở Kon Tum. HiêÌ£n taÌ£i RDSC coÌ môÌ£t caÌn bôÌ£ triÌ€nh đôÌ£ thaÌ£c sĩ, 6 cán bộ có trình độ đaÌ£i hoÌ£c, vaÌ€ 5 trung cấp. NoÌi chung, RDSC coÌ môÌ£t đôÌ£i ngũ caÌn bôÌ£ trẻ. VêÌ€ đôÌ£ tuổi, coÌ 1 caÌn bôÌ£ tuổi trong nhoÌm 55-60, coÌ€n laÌ£i đêÌ€u trong nhoÌm tuổi 22-30. Nhân lực khoa học của RDSC tại Kon Tum 28/07/2008 08:33' AM Danh sách các cán bộ của RDSC tại Kon Tum để các bạn đồng nghiệp liên hệ. Danh sách được cập nhật tới ngày 25 tháng 6 năm 2008. Hướng dẫn sử dụng Web hosting cho domain rdscvn.org 29/04/2008 12:24' AM Hướng dẫn sử dụng Web hosting cho Domain rdscvn.org bao gồm các phần khai báo địa chỉ thư điện tử và cài đặt vào outlook. Nhân lực khoa học công nghệ RDSC KT 28/03/2008 08:34' AM Tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2008,Văn Phòng RDSC KT đã có sự phát triển đầy đủ về tổ chức. Văn phòng có 7 cán bộ, với một kế toán kiêm hành chính chuyên nghiệp, hai thạc sĩ về phát triển, một kỹ sư nông nghiệp, và hai trung cấp chuyên nghiệp về chăn nuôi thú y. Trong 7 cán bộ, có ba nữ, một tình nguyện viên Nhật bản, và một người dân tộc Ba-nar. RDSC cũng duy trì một đội ngũ khuyến nông viên thôn bản với 5 thành viên (có bốn nữ) là người Ba-nar trong bản Kon-J'ri. |