|
RDSC, 31 -7-2010. - Với mong muốn góp phần vào việc xây dựng một giải pháp cho
chương trình dậy nghể cho nông dân, góp phần hình thành một số làng nghề nông
nghiệp và góp phần đóng góp một biện pháp để xây dựng nông thôn mới, Trung tâm
Dịch vụ Phát triển Nông thôn đã triển khai thực hiện mô hình Trạm thực nghiệm
Nông nghiệp Bền vững, một tiếp cận “khuyến nông cắm bản”, tại tỉnh Phú Thọ. Từ tháng 10 năm 2009, các mô hình được tổ
chức thực hiện khuyến nông chuyên sâu về con gà tại ba cộng đồng thôn Lục Lương
(xã Yên Lương, huyện Thanh Sơn), thôn Mít 1 (xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn) và
thôn Chiềng 2 xã Thu Cúc huyện Tân Sơn.
Bài này chia sẻ các bài học của RDSC dựa trên các báo cáo của ba trạm thực
nghiệm, hai báo cáo đánh giá của hai bác sĩ thú y thực hiện tại xã Yên Lương và
Thu Cúc. Bài viết cũng phản ảnh kết quả Hội thảo sơ kết 6 tháng thực hiện mô hình khuyến nông cắm
bản tổ chức ngày 15 tháng 7 năm 2010, tại phòng họp Trạm thực nghiệm Nông
nghiệp Yên Lương. Tham gia cuộc sơ kết có đại biểu của lãnh đạo đảng các xã có
mô hình, lãnh đạo các thôn, lãnh đạo tổ chức phụ nữ xã và thôn thực hiện mô
hình. Đại diện ngành nông nghiệp huyện
Thanh Sơn và Thanh Thủy cũng đã tham gia cuộc họp và có ý kiến thảo luận.
|
Mô hình khuyến nông
cắm bản
Mô hình khuyến nông cắm bản được RDSC tổ chức tại tại ba
thôn bản trong ba xã miền núi dân tộc thuộc tỉnh Phú Thọ từ tháng 10 năm 2008.
Trung tâm của mô hình là một trạm thực nghiệm nông nghiệp có vai trò thúc đẩy
nông dân mở rộng sự tham gia của mình trên chuỗi giá trị với một vài sản phẩm
nông nghiệp. Các hoạt động chính của trạm là thử nghiệm các tiến bộ kỹ thuật,
phổ biến và hỗ trợ cộng đồng trong thôn và xã về áp dụng các tiến bộ kỹ thuật
đã được xác nhận, thúc đẩy cộng đồng tiếp cận với thị trường đầu vào vào đầu
ra với một số sản phẩm đã được lựa chọn. Các kết quả mong đợi của mô hình là
thúc đẩy cộng đồng tạo được một hay một vài sản phẩm nông nghiệp được sản
xuất có tính chất hàng hóa theo nguyên tắc sản xuất sạch lấy nền tảng là tri
thức bản địa kết hợp với các tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp thích hợp với hộ
nông dân nghèo.
Sau 12 tháng thăm dò và xây dựng cơ bản trong giai đoạn 2008-2009,
các trạm thực nghiệm đã chọn con gà như một sản phẩm có khả năng quay vòng
nhanh, yêu cầu vốn vừa phải, có thị trường rộng, để tập trung thực nghiệm. Các
quy trình chăn nuôi gà và quy trình phòng dịch để sản xuất hàng hoá quy mô hộ
gia đình đã được thử nghiệm và xác định ổn định. Sáu tháng cuối năm 2010, các
trạm đang chuyển sang thực hiện hiện vai trò hỗ trợ cộng đồng san xuất gà
theo quy mô hàng hóa.
Các cơ quan quản lý nông nghiệp của các huyện Thanh Thủy,
Thanh Sơn, và Tân Sơn đều xác nhận mô hình là một cách khuyến nông mới và có
nhiều triển vọng trong việc đề xuất một cách thúc đẩy phát triển nông thôn. RDSC
đang đề nghị các chương trình 135, chương trình 30a, chương trình dạy nghề cho
nông dân và chương trình nông thôn mới xem xét các bài học thu được từ ba
điểm mô hình ở Phú Thọ.
|
2.1.1. Hoàn thiện cơ sở vật chất
Trong sáu tháng đầu năm 2010, cả ba trạm thực nghiệm đã hoàn
thành quá trình kết thúc các hoạt động chăn nuôi ở quy mô nhỏ lẻ và thanh lý
các loại vật nuôi là lợn và thỏ. Các trạm đã hoàn tất việc cải tạo chuồng trại
của lợn và thỏ để chuyển sang làm trại nuôi gà. Các khoản đầu tư cần thiết về
trang bị hệ thống chiếu sáng, sưởi ấm, tủ lạnh chứa vác xin, dụng cho cho gà
ăn, uống đã được hoàn tất. Các cán bộ của các trạm đã đi thăm quan một trại gia
đình nuôi gà kết hợp nuôi giun quế ở Lâm Thao (Phú Thọ), đi tham quan cơ sở sản
xuất gà giống của Công ty cổ phần gia cầm giống Ba Vì, Viện nghiên cứu Gia cầm
Thụy Phương. Các trạm cũng tiếp xúc và tham khảo ý kiến của các chuyên gia của
công ty CP về ba địa điểm làm trạm thực nghiệm, cũng như các ý kiến về làm
chuồng trại và phòng bệnh, tiêm phòng cho gà.
Mô hình trạm thực nghiệm được tổ chức trên một diện tích
khoảng ba sào, được coi là diện tích phù hợp với quy mô của hộ gia đình trong
tất cả ba xã. Các công trình hạ tầng, như chuồng trại, nhà kho, nhà ở được xây
dựng bằng nguyên vật liệu và thiết kế quen thuộc với người nông dân địa phương,
như tre, nứa, lá cọ, gạch cát đều là từ nguồn sản xuất hoặc khai thác tại chỗ. Mỗi
trạm được biên chế một xúc tác viên phát triển cộng đồng có trình độ trung cấp
kỹ thuật hoặc cử nhân và một công nhân người địa phương. Với việc sử dụng lao
động tại chỗ, việc xây dựng cơ sở hạ tầng, và việc tuyển lao động tại chỗ cũng
tạo thêm việc làm cho cộng đồng địa phương.
2.1.2. Thử nghiệm quy trình sản xuất
Qua thử nghiệm ba lứa gà với quy mô 2000 con (xem Phụ lục 1
về Trạm Yên Lương), từ các ngày đầu thực nghiệm, các trạm đã thiết lập các quan
hệ với các nơi cung cấp đầu vào như các cơ sở ấp gà con tại Thanh Sơn, hoặc các
công ty giống gà ở Ba Vì, hoặc Viện Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương. Quan hệ với
các đại lý cung cấp thức ăn cho gia cầm cũng được thiết lập. Các trạm cũng đã
thiết lập quan hệ với cộng đồng trong việc cung cấp lúa và ngô làm lương thực
nuôi gà là với nguồn tại chỗ. Quan hệ với các cơ sở thuốc thú y về gia cầm, như
công ty thuốc thú y Trung ương cũng đã thiết lập ổn định .
|
Công thức cho ăn và
mức độ tăng trưởng của đàn gà ta tại trạm Tân Lập
Trong 7 ngày đầu tiên, gà con
tăng trọng chậm do phải thích nghi với môi trường. Khi mới bắt về. mỗi gà con nặng khoảng
45-50g và sau 1 tuần trọng lượng đạt 100g. Sang giai đoạn sau, ở 2-5 tuần
tuổi, gà tăng trọng nhanh dần và lớn nhanh tùy theo từng giống gà. Vào mùa
đông, gà lai mía tăng trướng bình thường không bệnh tật đạt khoảng 400-600
g/con, còn gà ta đạt 300-400g/con (vào mùa hè gà tăng trưởng có chậm hơn).
Trong thời gian đầu, mức tiêu hao thức ăn là 30kg thức ăn hỗn hợp mảnh tính
cho 800con. Khi gà được 20-35 ngày tuổi, mức ăn của đàn gà là 50kg cho 800con
một ngày.
Khi được 40- 50 ngày tuổi, gà
được tập cho ăn ngũ cốc trộn đậm đặc và chuyển cho ăn đạm đặc trộn ngũ cốc
đến khi xuất bán với tỷ lệ 3,5kg đậm đặc trộn với 7kg ngũ cốc. Lượng
thức ăn với lượng 80-90kg/ngày chia
làm 3 bữa chính vào các ngày. Những ngày nắng nóng và mưa to, gà được cho ăn
chia làm 4 bữa để gà hấp thụ thức ăn được tốt nhất. Trong giai đoạn này gà
tăng trọng nhanh đến lúc 3 tháng tuổi gà lai mía được 1,6-1,8kg/con trống
và 1,4-1,5kg/con mái (với những con bị
bệnh từ nhỏ gà chỉ được khoảng 0,7-1kg). Với gà ta con đực được
1,5-1,6kg/con, con mái được 1,2-1,3kg/con (những con khi nhỏ bị bệnh trọng
lượng nhỏ hơn).
|
Với đàn gà ta và gà Lương phượng, được nuôi thử nghiệm, các
trạm đã xác nhận quy trình úm gà, quy trình tiêm phòng vac-xin , vệ sinh và khử
độc phù hợp. Các trạm cũng xác định và
trồng thành công các loại rau ngắn ngày làm thức ăn cho gà như rau muống, cỏ
ghi-nê, và trồng thành công cây chè đại bổ xung đạm thực vật và chất xơ cho gà.
Trạm Yên Lương đã nuôi và nhân giống thành công giun đỏ làm thức ăn bổ xung đạm
động vật cho gà, có tác dụng hạn chế “bệnh gà mổ” nhau. Một số thử nghiệm đã
được tiến hành với việc gây tổ mối để làm thức ăn bổ xung cho gà.
2.1.3. Khuyến nông với cộng đồng
Mô hình khuyến nông cắm bản được thực hiện nhằm bổ xung cách
làm khuyến nông truyền thống. Cụ thể, mô hình này xúc tiến khuyến nông với một
sản phẩm trong một chu trình từ đầu vào tới đầu ra của sản phẩm nông nghiệp,
trong trường hợp này là con gà. Mô hình khuyến nông thiết lập một hệ thống hỗ
trợ nông dân về mặt chuyên môn kỹ thuật tại chỗ, và giúp xúc tiến thị trường.
Các cán bộ khuyến nông sống và sinh hoạt ngay trong thôn bản cũng là một nguồn
lực kỹ thuật có sẵn.
Cuối giai đoạn 6 tháng đầu năm, thành công của trạm thực
nghiệm đã thu hút được sự chú ý của các hộ gia đình trong cộng đồng. Rất nhiều
người dân đã đến tham quan trạm và có trao đổi với công nhân của các trạm, đều
là người địa phương và là người dân tộc thiểu số. Cả ba trạm đều tổ chức các
cuộc tọa đàm với những người quan tâm nuôi gà trong các thôn lân cận về kỹ
thuật úm gà, nhận biết các bệnh cơ bản và tiêm phòng bệnh cho gà. Lịch tọa đàm
khuyến nông về con gà đã được thảo luận và thông qua với từng nhóm.
Các cán bộ trạm đã là nguồn tư vấn trực tiếp cho bà con nuôi
gà trong các thôn bản. Ba nhóm sở thích đã hình thành trong ba thôn với khoảng
3 chục thành viên, hầu hết là nữ và người dân tộc Mường. Các hộ nuôi gà đã nhờ
trạm mua hộ gà con để về úm. Một số hộ khác mua gà giống sau khi úm của các
trạm về nuôi. Các kỹ thuật nuôi gà gò, gà thịt, vệ sinh chuồng trại và tiêm
phòng bệnh đã được phổ biến cho những người quan tâm.
Chia sẻ về thành công của mô hình, hai đại biểu tham gia hội
nghị từ Thu Cúc và Tân Lập cho biết sau khi nuôi hai lứa gà nuôi thành công ở
quy mô 200 con, có hai chị đã chuyển từ nuôi lợn sang hoàn toàn nuôi gà. Các
lợi thế của nuôi gà được các đại biểu phân tích là tốn ít lao động, thức ăn sản
xuất tại chỗ từ nguồn sản xuất của gia đình, chi phí thấp và dễ tiêu thụ. Điều
kiện thành công cơ bản của việc sản xuất hàng hóa với con gà là khống chế được
dịch bệnh, và điều này chính là chức năng mà các trạm thực nghiệm đã bổ xung,
hỗ trợ các gia đình nuôi gà. Một bài học khác về phòng bệnh dịch được các đại
biểu chỉ ra từ một trường hợp không thành công, là yêu cầu giữ vệ sinh chuồng
trại và nhu cầu cách ly đàn gà gia đình nuôi theo hướng hàng hóa, với đàn gà
trong thôn.
Số lượt đọc:
104
-
Cập nhật lần cuối:
01/08/2010 02:18:00 PM
Ý kiến của bạn:Bài mới:
 RDSC và CARE thoả thuận về thực hiện “Dự án hỗ trợ phụ nữ nghèo dân tộc Dao20/01/2012 12:19' AM Ngày 16 tháng 12, RDSC và CARE đã ký các văn bản thoả thuận về thực hiện sáng kiến “Dự án Hỗ trợ phụ nữ nghèo dân tộc Dao thôn Bồ Xồ và Quất tổ chức câu lạc bộ sản xuất gà an toàn sinh học theo quy mô hàng hoá nhỏ định hướng thị trường”, một trong bốn giải thưởng của năm 2011 của Chương trình CASI III được chọn từ hơn 40 ứng viên của các tỉnh miền núi phía bắc. Trung tâm RDSC đã làm các thủ tục xin phê duyệt dự án với UBND tỉnh Phú Thọ từ ngày 30 tháng 12 sau khi hoàn tất các thủ tục mở tài khoản và ký kết các thoả thuận tài chính với CARE và cả ngân hàng. Nhìn lại chương trình thực tập sinh năm 2011 27/12/2011 08:07' PM RDSC có thế mạnh với việc tổ chức thực tập cho sinh viên những năm cuối, và cho nông dân. Với lợi thế là một đơn vị nằm trong cộng đồng dân tộc miền núi có đa dạng về các nhóm sắc tộc và loại hình sinh kế, thực tập sinh có điều kiện trải nghiệm và tự xây dụng cho mình hiểu biết về tổ chức chính quyền địa phương, cấu trúc xã hội ở cộng đồng. Sinh viên có thể tiếp xúc trực tiếp với các chất liệu học tập, nghiên cứu theo các chủ đề về nông thôn, nông nghiệp, an sinh xã hội, về xã hội học nông thôn, dân tộc học, và truyền thông. Giới thiệu Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn RDSC06/02/2011 12:44' AM Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn (RDSC) được thành lập nhằm góp phần vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đặc biệt hướng về mục tiêu giảm nghèo ở vùng nông thôn. Đại biểu Phù Ninh thăm quan mô hình tín dụng và canh tác bền vững tại xã Yên Lương 22/12/2011 03:10' PM Ngày 30 tháng 11 năm 2011, 50 đại biểu từ cộng đồng ba xã Thạch Thản, Vĩnh Phú và Bảo Thanh huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ cùng Ban Quản lý Dự án VM021 do SRD thực hiện đã tổ chức một chuyến tham quan học tập tới xã Yên Lương. Là một dự án về quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững, VM021 quan tâm tìm hiểu các bài học của Hội Phụ nữ xã Yên Lương về xây dựng và duy trì các tổ hợp tác của nông dân, đặc biệt qua mô hình Quỹ tín dụng phụ nữ xã cho người nghèo, và mô hình phát triển chăn nuôi gia cầm theo hướng thị trường.
Toàn quyền Canada David Lloyd Johnston đến thăm Việt Nam 23/11/2011 09:59' PM Để chào mừng ông toàn quyền Canada David Jolston trong chuyến đi thăm Việt Nam 16-20 tháng 11 năm 2011, RDSC điểm lại quan hệ hợp tác của mình với Canada từ ngày thành lập tới nay để ghi nhận những đóng góp của Canada với RDSC và qua đó tới cộng đồng người dân Việt Nam. Những dòng viết này cũng là lời cảm tạ với những cán bộ trong nước và quốc tế hoạt động trong lĩnh vực đào tạo, nâng cao năng lực đã đóng góp cho các hoạt động của RDSC trong những năm qua.
Bài đã đăng: Danh sách cán bộ và thông tin liên hệ của RDSC 30/07/2010 01:21' AM RDSC.- Dưới đây là thông tin liên hệ của các văn phòng và trạm thực nghiệm cũng như nhân viên của RDSC tính đến 30 tháng 7 năm 2010.
Sản phẩm của Trạm Thực nghiệm Nông nghiệp Bền vững Thu Cúc 08/07/2010 11:42' PM Tọa lạc ngay trong cộng đồng người Mường ở thôn Chiềng, Trạm Thực nghiệm Nông nghiệp Bền Vững thành lập từ năm 2008 nhằm kiểm nghiệm các quy trình sản xuất nông nghiệp sạch và bền vững để chuyển giao cho bà con các dân tộc khu vực Thu Cúc Huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Các sản phẩm chính năm 2010 của trạm là gà đặc sản dòng gà Chín Cựa nuôi tự nhiên, và Gà Lương Phượng nuôi theo phương pháp thả vườn, gối đầu theo quy mô 45 ngày 1 lứa mỗi lứa 1000 con. Chào mừng 15 năm ngày thành lập RDSC: Xã Phượng Mao sau 12 năm hợp tác với RDSC. 30/06/2009 12:35' PM BBT. Chị Đỗ Thị Dung, Giám đốc Quỹ tín dụng Phụ nữ xã Phượng Mao, huyện Thanh Thủy tỉnh Phú Thọ, là người đã gắn bó với hoạt động của RDSC tại xã hơn 13 năm. Qua chặng đường 12 năm phục vụ cộng đồng, chị chia sẻ những suy nghĩ về những đổi thay ở xã và tiếp cận phát triển giảm nghèo tổng hợp đã thực hiện ở địa phương. Tiếp nhận quản lý Quỹ tín dụng xã Phượng Mao từ năm 1999, Quỹ Tín dụng của xã Phượng Mao hiện đang hoạt động vững vàng và mở rộng, là một mô hình đầu tiên mà RDSC xây dựng, được áp dụng trong 12 xã khác ở các huyện Thanh Thủy, Thanh Sơn và Tân Sơn của tỉnh Phú Thọ. Các bài học của Quỹ cũng đã và đang được phổ biến và áp dụng ở nhiều địa phương khác trong nước. Bài học để thực hiện Quỹ quay vòng lương thực năm 2009 09/03/2009 12:25' PM Sang vụ chiêm năm 2009, các xúc tác viên của các xã Thu Cúc, Tân Lập và Yên lương đang triển khai mở rộng các mô hình đã thực hiện sang các thôn mới. Trong các mô hình này có mô hình Quỹ Quay vòng Lương thực. Kết quả đánh giá việc thực hiện Quỹ Quay vòng lương thực trong vụ mùa năm 2008 cho thấy các mô hình này được cộng đồng rất hoan nghênh và cho rằng có ý nghĩa tích cực trực tiếp với người nghèo. Các mục tiêu của Quỹ cơ bản đã đạt được. Tuy nhiên cuộc đánh giá cũng nêu ra những bài học để tổ chức Quỹ quay vòng lương thực tốt hơn. Các bài học này được đúc kết trong tiến trình nêu dưới đây. Sử dụng hệ thống điện tử và máy vi tính, internet, email của RDSC 03/03/2009 12:47' PM Quy định về sử dụng hệ thống điện tử và máy vi tính, internet, email của RDSC/IDMA
|