Xây dựng năng lực của hệ thống khuyến nông cơ sở để cải thiện kết quả sinh kế cho người nghèo
Đặng Ngọc Quang, ThS Phát triển Cộng đồng
Nguyễn Phạm Thu Huyền, Kỹ sư Nông nghiệp
Đặng Đình Thành, Kỹ sư Nông nghiệp
1. Đặt vấn đề
Từ tháng 10 năm 2004 đến tháng 10 năm 2007, Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn (RDSC) đã thực hiện Dự án “Tăng cường sự Tham gia của Nhân dân trong Phát triển Kinh tế Xã hội tại tỉnh Phú Thọ” trên phạm vi 10 xã của hai huyện Thanh Sơn (đã tách thành huyện Thanh Sơn và Tân Sơn từ đầu năm 2007) và Thanh Thủy. Sau ba năm thực hiện, RDSC tổ chức một cuộc đánh giá cuối kỳ để làm rõ tác động của hoạt động khuyến nông tới phụ nữ và người nghèo, người dân tộc thiểu số.
Đoàn Đánh giá thực hiện bằng phương pháp định tính qua đối chiếu hai nhóm mẫu chọn từ các hộ nghèo của thôn Dặt (thôn thực nghiệm) và với thôn Dụt Dàn (thôn đối chứng) trong cùng một xã Thạch Kiệt, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Với nhóm hộ nghèo trong mỗi thôn, đoàn đánh giá đã chọn 8 mẫu để “phỏng vấn linh hoạt”, trong đó có một nửa là nữ. Ở thôn Dặt, cả 8 mẫu phỏng vấn đều tham gia Quỹ Tín dụng do dự án xây dựng. Trong 4 người nam được phỏng vấn, có 1 người mà gia đình đang thực hiện mô hình quỹ quay vòng chuồng trại. Trong 4 người nữ của thôn Dăt, có một người mà gia đình thực hiện mô hình quỹ nuôi chia bò và một người trong gia đình thực hiện mô hình công trình vệ sinh.
Ở hai thôn, đoàn đánh giá cũng phỏng vấn trưởng thôn, đồng thời là khuyến nông viên thôn, và tổ trưởng Chi hội phụ nữ. Ở cấp xã, đoàn đã phỏng vấn đại diện của Ban Phát triển xã, và khuyến nông viên xã, Chủ tịch Hội phụ nữ kiêm Giám đốc Quỹ Tín dụng, và đại diện Hội đồng Nhân dân xã.
2. Xã thực hiện dự án
Thạch Kiệt là một trong 10 xã mà RDSC có thực hiện các hoạt động của dự án. Xã có 14 thôn, với 12 thôn người Mường và 2 thôn người Dao. Xã có 759 hộ, trong đó dân tộc Mường 61%, dân tộc Dao 19%, tỷ lệ các hộ nghèo trong xã rất cao ở mức trên 50%.
Là một xã dân tộc miền núi mới được công nhận là xã 135 từ tháng 4 năm 2007, xã được nhận một số chương tình hỗ trợ như Chương trình134 (xoá nhà tạm) có hỗ trợ vốn 5 triệu/hộ. Chương trình này đã xoá được 105 nhà của 12 thôn. Chương trình 135 hỗ trợ xã làm đường liên thôn đi qua thôn Dụt Dàn và thôn Chiềng. Ngân hàng Chính sách hiện cho người nghèo vay với lãi suất thấp 0,65% với tổng số vốn đã giải ngân là 1,7 tỷ VND. Chương trình 135 cũng hỗ trợ giá lúa thông qua hệ thống khuyến nông huyện cho các thôn nghèo từ năm 2005.
UCODEF là một tổ chức phi chính phủ quốc tế (INGO) của Italy đã hỗ trợ xã xây dựng một trạm thuỷ điện nhỏ ở thôn Lóng để cung cấp điện cho 60 hộ, trong đó có 30 hộ người Dao. Ngoài ra, dự án 135 do Ngân hàng Thế Giới (WB) tài trợ cũng hoạt động tại xã từ tháng 6 năm 2007, với các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng như trường học, giao thông, thuỷ lợi nội đồng. Hiện tại, dự án WB đang thực hiện tại thôn Cường Thịnh I và II. Hệ thống khuyến nông nhà nước còn triển khai các mô hình như mô hình lúa lai năm 2007, làm dịch vụ cung cấp giống ngô, lúa, khoai tây, và khoai lang.
3. Hai cộng đồng nghiên cứu
Thôn thực nghiệm (thôn Dặt), là một thôn nông nghiệp cách trung tâm xã khoảng 2 Km, có thể đến thôn bằng xe máy. Thôn được con sông Bứa chia thành 2 chòm xóm; một một chòm có 35 hộ sống dưới những quả đồi; trẻ em muốn đi học phải qua sông để đến trường. Người lớn muốn đi chợ cũng phải qua sông như vậy. Chòm còn lại có 21 hộ sống dọc đường sang bên kia sông. Với 56 hộ (có tới 28 hộ nghèo), cả thôn có 218 khẩu với 90% là người Mường. Hầu hết các hộ gia đình là thuần nông tuy nhiên có 7 hộ thuần phi nông nghiệp; họ là hộ có giáo viên hoặc buôn bán nhỏ.
Về đất nông nghiệp, thôn có 10,2 ha, trong đó có 5,5 là đất lúa một vụ, còn đất lúa hai vụ là 6,92 ha. Diện tích đất lâm nghiệp của thôn khá rộng có đến 314 ha, trong đó phần diện tích đã giao cho dân trồng keo là 89 Ha, và trồng chè là 1,7 ha. Phần còn lại là của đất lâm nghiệp là rừng khoanh nuôi do Lâm trường Tam Sơn quản lý. Tổng diện tích đất của thôn là 430 ha.
Trong thôn, khuyến nông huyện có tập huấn và cấp giống về trồng chè, trồng khoai tây, khoai lang, bí đao. Chưong trình 134 đã xoá nhà tạm cho 5 hộ. Ngân Hang Chính Sách (NHCS) cho vay được 230 triệu cho 42 hộ nghèo.
Thôn đối chứng (thôn Dụt Dàn) có 78 hộ, trong đó hộ nghèo 68 hộ. Số dân trong thôn là 315 người, trong đó 90% người Mường, cũng giống như thôn thực nghiệm. Thôn có thể được chia làm ba chòm dân cư. Một chòm ở gần Quốc lộ 32, và hai chòm kia ở phía trong chân núi cách quốc lộ khoảng 1,5km. Về đất canh tác, thôn có 21,2 ha đất nông nghiệp, nhiều gấp đôi thôn đối chứng. Đất một vụ của thôn là 14Ha, đất hai vụ --4,2ha. Ngoài ra, thôn có 0,72Ha mặt nước ao được dùng nuôi cá và có 19,5ha đất lâm nghiệp được sử dụng để trồng keo; trên diện tích keo mới trồng, nhân dân có trồng xen 20 ha sắn. Ngoài ra, người dân còn mới trồng 0,5ha chè rải rác theo rìa đồi keo. Trong thôn có 5 hộ phi nông nghiệp. Trong thôn, nhà nước hiện đang thực hiện Chương trình 134 và đã xoá nhà tạm cho 11 hộ. Chương trình cũng làm 2 Km đường cấp phối từ đường Quốc lộ 32 vào thôn. Ngân hàng Chính Sách cũng đang cho các hộ nghèo vay vốn với mức 262 triệu đồng và rải ngân cho 52 hộ thông qua Chi hội phụ nữ.
4. Cách khuyến nông truyền thống
Qua các cuộc phỏng vấn, có thể thấy khuyến nông xã được tham gia các tập huấn do Trạm khuyến nông huyện tổ chức; sau đó họ phổ biến các kiến thức tiếp thu được qua các cuộc giao ban tháng với các khuyến nông viên thôn (cũng chính là các Trưởng Thôn). Phương pháp phổ biến khuyến nông là tham khảo tài liệu và kiến thức đi tập huấn, rồi đọc lại cho cộng đồng nghe. Hệ thống khuyến nông huyện cũng tổ chức các mô hình khuyến nông, nhưng người thực hiện chủ yếu là các hộ khá. Các mô hình chủ yếu được áp dụng với các hộ khá có đủ đất đai, vốn đầu tư và lao động. Khuyến nông cơ sở cũng còn làm đại lý cung cấp giống và phân bón cho nông dân sau khi phổ biến và tổ chức cho nông dân đăng ký. Khi đó, khuyến nông xã là đơn vị trung gian thực hiện các chương trình hỗ trợ vật tư như giống lúa và các loại giống rau màu.
Trong hệ thống khuyến nông, khuyến nông viên xã không nằm trong biên chế, và chỉ hưởng một khoản phụ cấp khá thấp ở mức 150 ngàn đồng một tháng. Với khuyến nông cơ sở, họ không có phụ cấp gì, và việc này thường do trưởng thôn kiêm nhiệm luôn. Với cơ chế động viên có hạn như vậy, việc khuyến nông viên thôn dành thời gian để đưa tiến bộ kỹ thuật cho người dân là khó mong đợi, nhất là càng khó để khuyến nông làm việc với người nghèo, phụ nữ và người dân tộc thiểu số.
5. Hoạt động can thiệp của dự án
Hoạt động chủ chốt của dự án là nâng cao năng lực cho hệ thống khuyến nông cơ sở thông qua các lớp tập huấn kỹ thuật về chăn nuôi thú y, trồng trọt, thăm quan các mô hình trong và ngoài huyện, trong tỉnh và ngoài tỉnh. Kết quả dự kiến của hoạt động này là thay đối thái độ và cách thức phục vụ của khuyến nông với sự thiên vị cho người nghèo, có nhận thức giới rõ và người dân tộc thiểu số.
RDSC đã đặt hàng với Trạm thú y huyện mở các lớp tập huấn kỹ thuật thú y cơ bản và nâng cao cho 14 thành viên thú y cộng đồng chọn từ tất cả các thôn trong xã để các thú y viên có đủ kiến thức và kỹ năng khám chữa bệnh gia súc cho gia cầm phục vụ cho cộng đồng. Để phù hợp với điều kiện làm việc và học tập của của hội viên, khóa tập huấn tổ chức thành hai đợt: một đợt tập huấn thú y cơ bản vào tháng 7 năm 2005 và đợt thứ hai vào tháng 8 năm 2007, tổng cả hai đợt 26 ngày. Để củng cố các kỹ năng cho các học viên, các thành viên các Hội thú y được tư vấn định kỳ qua các tháng sinh hoạt tổ do cộng tác viên thú y là Tổ trưởng Tổ thú y của xã Tu Vũ, tới làm xúc tác viên. Trong các buối sinh hoạt nhóm, các thú y y viên cộng đồng được chia sẻ kinh nghiệm và tư vấn để giải quyết các vướng mắc đã gặp trong tháng.
Ngoài Hội Thú y của xã, RDSC đã hỗ trợ xây dựng một số tổ chức cộng đồng khác. Ví dụ, Tổ Nuôi Ong được hình thành và triển khai trên toàn xã từ năm 2005; Các tổ chức khác là Tổ Sản xuất lợn giống Móng cái và các mô hình trồng cây thức ăn gia súc. Năm 2007, RDSC tổ chức Quỹ Nuôi Chia Bò.
Tại, Thạch Kiệt, RDSC đã áp dụng các bài học thành công tại huyện Thanh Thủy, ví dụ như mô hình như Quỹ tín dụng Phụ nữ và Quỹ công trình vệ sinh. Cũng giống như ở các mô hình trước đây, RDSC đã thực hiện các hoạt động tập dượt về lôi cuốn sự tham gia có tác động đến hệ thống khuyến nông cơ sở như xây dựng “Công trình thủy lợi và cầu phao qua sông” cho cộng đồng.
Các kỹ năng của hệ thống khuyến nông cơ sở và khuyến nông thôn được tập trung phát triển có các kỹ năng theo dõi giám sát, kỹ năng tổ chức cuộc họp, kỹ năng lôi cuốn sự tham gia của người nghèo và phụ nữ, kỹ năng thực nghiệm mô hình và tư vấn hướng dẫn kỹ thuật, cũng như kỹ năng nhân rộng mô hình. RDSC đã thay đổi được các thực hiện các dự án cộng đồng với người nghèo, cụ thể là ưu tiên người nghèo, phụ nữ thông qua cách lựa chọn thành viên tham gia mô hình là các hộ nghèo, miễn giảm các đóng góp cho các hộ nghèo trong các công trình công cộng như đường, hoặc hệ thống thuỷ lợi.
6. Sự thay đổi với khuyến nông xã
Sau ba năm hoạt động với dự án của RDSC, các khuyến nông xã cho rằng sau các khóa đào tạo và tập huấn theo dõi giám sát, và với sự kèm cặp hỗ trợ của cán bộ dự án thông qua các mô hình và các tổ, quỹ chăn nuôi trong địa bàn xã, họ đã hoạt động hiệu quả và hiệu suất cao hơn, nắm được các làm việc với người nghèo, và đã thể hiện sự quan tâm và hỗ trợ người nghèo rõ rệt hơn trước.
Các cuộc phỏng vấn của 16 người trong các hộ của cả hai khu cho thấy, thú y xã môĩ năm tổ chức tiêm phòng hai đợt với các loại bệnh như tụ huyết trùng và lở mồm long móng đối với gia súc, đối với gia cầm tiêm phòng H5N1 và phun thuốc khử trùng trên toàn thôn. Một người nghèo cho biết: “Trước kia, thôn chúng tôi không bao giờ tiêm phòng dịch bệnh cả. Từ năm 2005 và 2006 đến nay, đội thú y xã đã thường tổ chức tiêm phòng. Họ cũng đi kiểm tra và hướng dẫn bà con cách vệ sinh chuồng trại nên bây giờ cũng ít dịch bệnh hơn trước. Nhờ họ, chúng tôi cũng biết được sự nguy hiểm của các bệnh dịch đến tính mạng con người, nhất là với trẻ em và phụ nữ. Trước kia, khi trâu bò chết chúng tôi thường mổ chia nhau ăn, và gà cũng thế. Bây giờ không ai dám ăn nữa. Nếu có gia súc chết, chúng tôi gọi thú y vào kiểm tra. Nếu không ăn được thì mang chôn”.
Trong cuộc phỏng vấn cán bộ thú y và khuyến nông xã, anh T.V.T, tổ trưởng tổ thú y cộng đồng xã cho biết: “Năm 2004 tôi được trạm thú huyện cử đi học lớp sơ cấp thú y tại Khải Xuân trong 14 ngày. Học chủ yếu là lý thuyết, còn thực hành rất ít. Đến năm 2005, tôi được tham gia tiếp khóa tập huấn thú y của RDSC trong hai đợt 26 ngày. Tôi thấy đã được thực hành nhiều và làm được luôn. Đồng thời tôi còn học được phương pháp tập huấn lại cho bà con. Thông thường, khi tôi đi chữa bệnh hoặc tiêm phòng ở khu nào, thì tôi tư vấn và hướng dẫn về chăn nuôi và thú y tại đó luôn”. Một khuyến nông viên phụ trách về trồng trọt cho biết: “Ngày trước, tôi học trung cấp lâm nghiệp về tài chính. Do chỉ học sơ về nông nghiệp, nên tôi không biết nhiều về kỹ thuật trồng trọt và phương pháp làm với người dân, đặc biệt là với người nghèo. Hiện nay, trong công việc, tôi áp dụng chủ yếu các phương pháp học được từ dự án, như tổ chức họp dân lấy ý kiến của dân và theo dõi giám sát các mô hình, hướng dẫn kỹ thuật trên đồng ruộng mỗi khi tôi đi kiểm tra tại các khu trong xã.”
7. Sự thay đổi với khuyến nông thôn
Thông thường, khuyến nông viên thôn thường là trưởng thôn kiêm nhiệm. Do đó, trong dự án, họ đều được tham gia các mô hình, các quỹ chăn nuôi, các khóa tập huấn kỹ thuật, các cuộc Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm khuyến nông và giảm nghèo. Ngoài ra, khuyến nông thôn còn tham gia các khóa tập huấn trồng chè và an toàn lương thực do nhà nước tổ chức. Ở thôn Dụt Dàn là thôn đối chứng, khuyến nông thôn không tham gia các hoạt động đào tạo, tập huấn, họ cũng không tham quan hội thảo về chủ đề khuyến nông giảm nghèo.
Với khuyến nông viên ở thôn thực nghiệm, các can thiệp của dự án được thực hiện qua tham gia của cộng đồng đặc biệt là người nghèo, phụ nữ và người dân tộc thiểu số trong các khâu khuyến nông. Một khâu quan trọng thể hiện sự thiên vị với hộ nghèo và phụ nữ là chọn hộ tham gia. Các mô hình trồng cây thức ăn gia súc, Quỹ nuôi chia bò, ưu tiên hộ nghèo vay vốn tín dụng, tư vấn hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi và trồng trọt khu thực hiện Quỹ tín dụng và Quỹ công trình vệ sinh đều có tiêu chí ưu tiên cho hộ nghèo, phụ nữ dân tộc. Sự ưu tiên còn thể hiện qia các tư vấn kỹ thuật cho cộng đồng, có chú ý đặc biệt tới phụ nữ và người nghèo, theo cách thức cầm tay chỉ việc, trong việc hướng dẫn cấy lúa, bón phân, và qua các cuộc họp phổ biến và hướng dẫn kỹ thuật phòng trừ dịch bệnh hại cây trồng. Trong thôn can thiệp, khuyến nông viên đã cùng cán bộ dự án tự thiết kế mô hình trồng trọt và thực hiện mô hình cho người dân trong thôn xem, và hướng dẫn chi tiết kỹ thuật làm trong trồng ngô, trồng bí xanh, và trồng rau.
So sánh hai thôn đối chứng và thôn can thiệp cho thấy, năng suất lúa ở Dụt Dàn trong các hộ tham vấn chỉ đạt từ 100kg đến 150kg/sào/vụ là cao nhất. Trong khi đó, ở thôn thực nghiệm, năng suất lúa đạt tới 150kg đến 180kg/sào/vụ.
Tuy khuyến nông viên của thôn đối chứng cũng có đi khảo sát các cánh đồng lúa trong khu và thông báo cho dân, kiến thức của khuyến nông viên đã không đến với dân. Khi đoàn đánh giá hỏi về cách nhận biết các loại sâu bệnh hại lúa và hoa mầu, thì người nông dân ở thôn Dụt Dàn không biết rõ. Kiến thức đọng lại qua các buổi họp thôn có thông báo lại nội dung khi đi họp trên xã, hoặc đọc lại tài liệu khi đi họp được phát tay và và hướng dẫn sử dụng theo bao bì ghi trên sản phẩm rõ ràng có nhiều hạn chế. Điều này thua đáng kể so với thôn thực nghiệm.
Trong cả hai thôn đối chứng và thực nghiệm đều có thú y viên thôn, tuy nhiên tại thôn đối chứng (Dụt Dàng), khuyến nông viên và thú y đã không phối kết hợp được với nhau. Thôn không đưa ra được các định hướng cũng như phương pháp đạt được mục tiêu phát triển kinh tế của thôn. Hệ thống chăn nuôi ở Dụt Dàng chủ yếu theo hình thức thả rông, trái lại ở thôn thực nghiệm, chăn nuôi chủ yếu theo phương thức nuôi nhốt và gia súc được tiêm phòng dịch trong suốt quá trình nuôi. Tại thôn đối chứng, khuyến nông viên đã có cải thiện về năng lực kỹ thuật và phương pháp thực hiện ưu tiên người nghèo và phụ nữ. Ở đây, khuyến nông viên thôn đã tự tìm giống ngô, giống bí xanh và thực nghiệm trồng thử. Sau đó, anh đã tuyên truyền cho cả thôn và tư vấn kỹ thuật cho người dân trong các buổi họp thôn. đồng thời ngành chăn nuôi của thôn cũng được cải thiện từ chăn nuôi thả rông, không đầu tư chuyển sang chăn nuôi nhốt có đầu tư. Ở thôn đối chứng, chưa thấy khuyến nông viên thôn có các hoạt động tự lực về thực nghiệm trồng trọt cho phù hợp với địa bàn trong thôn.
8. Đánh giá của cộng đồng đối với khuyến nông thôn
Theo những người được phỏng vấn, từ khi thực hiện dự án đến nay, các khuyến nông viên của cả hai thôn đối chứng và thực nghiệm đều đã quan tâm đến trồng trọt và chăn nuôi của người dân nhiều hơn trước kia. Tất cả các thành viên tham gia tham vấn đều nhận xét giống như một người đã trả lời: “Hai ba năm nay khuyến nông thôn nhiệt tình và thường đi kiểm tra chủ yếu về trồng lúa và hoa màu. Nếu có sâu bệnh là ông trưởng thôn tổ chức cuộc họp gấp thông báo ruộng nhà ai đang bị bệnh và hướng dẫn cách phòng và trị cho toàn khu biết”.
Theo đánh giá của cộng đồng, sự khác biệt giữa thôn thực nghiệm và đối chứng rõ rệt ở phương pháp làm việc của khuyến nông với người dân. Với thôn thực nghiệm, 75% ý kiến người dân tham vấn cho là họ được khuyến nông viên thôn hướng dẫn kỹ thuật trồng lúa, ngô, các loại rau màu khác và cách phòng trừ và phát hiện sâu bệnh thông qua cuộc họp và hướng dẫn trên đồng ruộng theo hình thức cầm tay chỉ việc. Ngoài ra, khuyến nông viên thôn còn thu hút được sự chú ý cao của người dân trong các cuộc họp hoặc các cuộc phổ biến kỹ thuật và các cuộc họp bàn về các công trình phúc lợi tại thôn. Với tư cách là trưởng thôn, khuyến nông viên thôn đã ưu tiên hơn với người nghèo và phụ nữ trong hướng dẫn kỹ thuật thâm canh lúa tại ruộng. Các hộ nghèo cũng được ưu tiên giảm mức đóng góp trong xây dựng các công trình công cộng, được hướng dẫn phòng chống dịch bệnh và trị bệnh gia súc tại nhà. Thú y viên của thôn đã miễn giảm về phí khám chữa trị bệnh gia súc gia cầm cho người nghèo.
Với thôn đối chứng, cũng có 75% ý kiến cho là cộng đồng được khuyến nông thôn tuyên truyền và hướng dẫn, nhưng theo hình thức đọc tài liệu cho cộng đồng nghe, kể cả khi hướng dẫn phòng trừ dịch bệnh. Nội dung khuyến nông chính là phổ biến lịch mùa vụ và giới thiệu các loại giống mới. Các cuộc họp do khuyến nông viên thôn tổ chức chỉ đạt 60% số hộ trong thôn tham gia.
Có thể kết luận rằng, kỹ năng của các khuyến nông viên thôn ở thôn thực nghiệm có sự thay đổi rõ rệt theo hướng “xây dựng kỹ năng” cho người dân và tăng cường sự tham gia của cộng đồng.
9. Tác động của khuyến nông đối với người nghèo và phụ nữ
Các hoạt động can thiệp của RDSC đã đem lại những thay đổi đáng kể và quan sát được trong cộng đồng người nghèo, phụ nữ về những khía cạnh an toàn lương thực, thu nhập, chi tiêu cho tài sản gia đình và bình đẳng giới.
Mức độ an toàn lương thực
Khi phỏng vấn về mức độ đủ ăn của hai thôn thực nghiệm và đối chứng, có thể thấy người dân nghèo có mức an toàn lương thực cao hơn ở thôn thực nghiệm. Trong thôn thực nghiệm, có 50% số người tham vấn kể lại trước khi thực hiện dự án mức thiếu lương thực của họ là từ 6-8 tháng. Đến nay mức thiếu ăn đã giảm khá nhiều; chỉ còn 2-3 tháng. Với thôn đối chứng, 50% ý kiến của người phỏng vấn cho rằng trước kia thiếu ăn đến 6-8 tháng và bây giờ vẫn thế.
Thay đổi trong thu nhập
Thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình cũng thay đổi và khác biệt đáng kể khi so sánh giữa hộ của thôn đối chứng và thôn thực nghiệm. Về thu nhập, có nhiều hộ ở cả hai thôn cho rằng thu nhập của chăn nuôi cũng như trồng trọt và dịch vụ làm thuê của năm 2007 đều tăng lên so với 2004. Tuy nhiên, khi so sánh giữa hai thôn, ở thôn Dặt (thôn thực nghiệm) 100% hộ nghèo được phỏng vấn đều trả lời thu nhập từ chăn nuôi tăng lên, và 75% hộ thu nhập từ trồng trọt tăng lên. Nhưng ở thôn Dụt Dàn thì tỷ lệ này thấp hơn nhiều, và chỉ ở mức một phần ba người trả lời.
Điều này có thể lý giải qua việc các hộ nghèo ở thôn Dặt trong ba năm qua đã chú trọng vào chăn nuôi và trồng trọt do chủ động về vốn khi được vay vốn tín dụng từ phụ nữ để chăn nuôi gia súc nhỏ (lợn), và gia cầm (gà, vịt ). Còn thu nhập từ trồng trọt tăng lên chủ yếu là dự án hỗ trợ xây mương từ năm 2005 nên nông dân đã chủ động được nước tưới. Hơn nữa, đồng thời các hộ nghèo đã sử dụng phân bón đúng cách và dùng giống mới nên trồng trọt có hiệu quả hơn.
Tác động với tài sản của các hộ gia đình
Trong ba năm qua, ở cả hai thôn các gia đình đều có nhiều cải thiện về tài sản. Tại thôn thực nghiệm, dân làng đã xây được 5 nhà xây bán kiên cố, còn ở thôn đối chứng dân làng đã cũng phát triển thêm được 3 nhà xây bán kiên cố. Một số hộ nghèo ở cả hai thôn đã xây nhà với các khoản tiền huy động thêm để phụ với khoản hỗ trợ của chính phủ (ở mức 5 triệu đồng/hộ). Với tài sản và vật dụng gia đình, thôn thực nghiệm nổi trội hơn thôn đối chứng rõ rệt, ví dụ về số hộ mua ti vi mầu hoặc xe máy. Trước khi thực hiện dự án, trong thôn thực nghiệm chỉ có 10 xe máy, hiện tại có tới 25 chiếc. Nhiều hộ mua thêm các vật dụng mới như tủ bàn, gường.
Tác động giới trong các hộ gia đình
Mối quan hệ thiên vị giới trong khuyến nông ở thôn thực nghiệm đã thể hiện sự cải thiện vị thế của phụ nữ trong gia đình. Các hộ nghèo và phụ nữ tại thôn thực nghiệm được ưu tiên vay vốn tín dụng, được tư vấn trong sản xuất và đầu tư vào sản xuất. Qua tham gia các sinh hoạt của các tổ chức cộng đồng, họ có nhiều điều kiện để học hỏi, giao lưu và cả thiện quan hệ xã hội. Khi hộ nghèo thực hiện mô hình, bản thân họ được cung cấp kiến thức về nông nghiệp và cải thiện được giao tiếp xã hội. Không chỉ kiến thức nông nghiệp. mà quan hệ xã hội và cộng đồng của họ được tăng rõ rệt.
Khi phỏng vấn ở thôn thực nghiệm về quan hệ trong gia đình, các hộ đều công nhận sự thay đổi đáng kể là trước kia đàn ông thường quyết định mọi công việc cuả gia đình, nhất là trong sản xuất. Tuy nhiên, hiện nay tất cả các hộ xác nhận là cả 2 vợ chồng cùng bàn bạc và quyết định các việc quan trọng trong gia đình. Phụ nữ bây giờ cũng có quyền quyết định trong chăn nuôi và vay vốn tín dụng. Ngược lại, các hộ ở thôn đối chứng đều xác nhận từ trước đến nay thì mọi mối quan hệ giữa vợ và chồng không có gì thay đổi cả.
Kết luận, hạn chế của đề tài và khuyến nghị
Kết luận
Kết quả đánh giá định tính điển cứu ở hai thôn cho thấy các giả thuyết của dự án về khả năng nâng cao an toàn lương thực và chất lượng cuộc sống thông qua xây dựng năng lực của hệ thống khuyến nông cấp thôn xã là có cơ sở thực nghiệm ban đầu. Các hoạt động nâng cao năng lực của khuyến nông viên cơ sở đã có tác động cải thiện mức độ đủ ăn, thu nhập, chi tiêu mua sắm tài sản và quan hệ bình đẳng giới trong các gia đình nghèo.
Qua so sánh hoạt động của tổ chức khuyến nông cấp xã, và khuyến nông hai thôn thực nghiệm và đối chứng, đoàn đánh giá đã quan sát được là các hoạt động mà dự án của RDSC đã cải thiện năng lực của hệ thống khuyến nông cơ sở cụ thể họ đã hoàn thiện các kỹ năng về thực nghiệm mô hình, lãnh đạo tổ chức, tiến hành các cuộc họp cộng đồng, đánh giá nhu cầu, năng lực phối hợp giữa các thành viên của hệ thống khuyến nông để phục vụ cộng đồng, người nghèo và phụ nữ tốt hơn. Đặc biệt, khuyến nông viên thôn thực nghiệm đã thực hành thử nghiệm kỹ thuật nông nghiệp và truyền bá kỹ năng theo phương thức “cầm tay chỉ việc”, là một cách làm được thừa nhận phù hợp và có hiệu quả với người nghèo dân tộc thiểu số. Mặc dầu kết quả đánh giá mang tính điển cứu ở hai thôn, cuộc khảo sát cho thấy các giả thuyết của dự án về khả năng nâng cao an toàn lương thực và chất lượng cuộc sống thông qua xây dựng năng lực của hệ thống khuyến nông cấp thôn xã là có cơ sở thực nghiệm ban đầu.
Trong thôn thực nghiệm, người nghèo và phụ nữ tiếp cận (biết, sử dụng, và đề cao) các dịch vụ của hệ thống khuyến nông cơ sở và các tổ chức cộng đồng được hình thành để phục vụ người nghèo và phụ nữ như Quỹ tín dụng, Quỹ Công trình vệ sinh, và các Quỹ tự có khác của Chi hội Phụ nữ. Người nghèo và phụ nữ đã chủ động hơn trong quá trình phát triển sản xuất như vay vốn đầu tư cho chăn nuôi, mua phân bón.
Hạn chế của đề tài và khuyến nghị về những hướng nghiên cứu
Đoàn đánh giá cũng ghi nhận quá trình giảm nghèo và cải thiện chất lượng cuộc sống của người nghèo dân tộc thiểu số ở nông thôn miền núi diễn ra trong bối cảnh có nhiều chính sách của nhà nước dành riêng cho người nghèo. Những chương trình đó có những nguồn lực lớn hơn nhiều so với nguồn lực của RDSC, như chương trình vay vốn ưu đãi, chương trình trợ cước trợ giá với giống, và phân bón, chương trình ưu đãi về khám chữa bệnh miễn phí, miễn giảm học phí, hoặc các chương trình dành cho cả cộng đồng. Từ các khảo sát khác của RDSC, người nghèo dân tộc chưa được hưởng hoặc được hưởng chưa đầy đủ với các chương trình đó. Cuộc đánh giá này chưa tìm hiểu khả năng các hoạt động phát triển cộng đồng mà RDSC thực hiện có thể xúc tác hay thúc đẩy người nghèo và dân tộc biết nhiều hơn, và sử dụng tốt hơn các dịch vụ công đó.
Đề tài cũng có thể tiếp tục hoàn thiện về phương pháp. Cụ thể, trong thời gian tới với việc bổ xung các số liệu định lượng và nhờ đó cải thiện khả năng tách bạch rành mạch các tác động do dự án của RDSC đem lại với các tác động của chính sách giảm nghèo cũng như tác động của môi trường phát triển kinh tế năng động của đất nước. Quy mô khảo sát ở phạm vi hai thôn thực nghiệm và đối chứng với số mẫu còn hạn chế, cũng là nguyên nhân hạn chế khả năng mở rộng những kết luận của cuộc đánh giá với cả tập hợp gần 80 cộng đồng trong 10 xã của 3 huyện tỉnh Phú Thọ hiện đang tham gia chương trình của RDSC./. DNQ
Đoàn đánh giá gồm ba thành viên Đặng Ngọc Quang (Thạc sĩ phát triển cộng đồng), Nguyễn Phạm Thu Huyền (Kỹ sư nông nghiệp),Đặng Đình Thành (Kỹ sư nông nghiệp) và Dương Thị Phương Duyên (Kỹ sư Khuyến nông) là cán bộ của Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn, có trụ sở tại Hà Nội, và Chi nhánh ở Phú Thọ.
Nguồn:
RDSC Số lượt đọc:
257
-
Cập nhật lần cuối:
12/03/2009 08:46:50 AM Bài mới:
 Nuôi giun quế ở cộng đồng thôn Quất và Bồ Xồ 01/04/2012 03:44' PM Nuôi giun quế là một hoạt động bổ trợ để thúc đẩy chăn nuôi gà an toàn
sinh học cho các CLB chăn nuôi của chị em dân tộc Dao và Mường ở hai
thôn vùng cao Quất và Bồ Xồ (xã Yên Lương). Tuy được phổ biến rộng rãi
trên báo chí, trên thực tế, trong gần một nghìn hộ ở xã Yên Lương chỉ có
một hộ nuôi giun quế ở quy mô nhỏ, và một điểm nuôi giun trình diễn ở
Trạm thực nghiệm của Trung tâm RDSC. Cả hai điểm đều chưa đủ điều kiện
để cung cấp giun quế giống cho nhân dân trong xã. Hoạt động tổ chức cộng đồng của dự án CASI 3 tại Yên Lương03/03/2012 12:03' PM Trong tháng 2, Dự án CASI 3 Yên
Lương có những hoạt động về tổ chức cộng đồng ở cấp xã và thôn. Dự án đã tổ chức Ban Quản lý và cộng đồng đã hình thành hai CLB và lãnh đạo của CLB tại thôn Quất (phụ nữ Thổ và Mường) và Bồ Xồ (phụ nữ Dao). Các CLB đã đưa ra kế hoạch hoạt động chi tiết của dự án cho tháng 3/2012. Ngành an ninh làm việc với RDSC PT về dự án CASI 316/02/2012 02:50' AM Ngày 14 tháng 2 năm 2012, cán bộ công an của ba cấp, xã Yên Lương, huyện
Thanh Sơn và tỉnh Phú Thọ đã tới thăm và làm việc với Văn phòng RDSC
Phú Thọ. Tiến độ phê duyệt dự án CLB chăn nuôi tổng hợp gia cầm sạch của phụ nữ tại Yên Lương12/02/2012 03:49' PM Chiều ngày 7 tháng 2 năm 2012, nhóm cán bộ RDSC Phú Thọ và lãnh đạo xã
Yên Lương đã có cuộc họp trao đổi về tiến độ phê duyệt dự án “Hỗ trợ phụ
nữ nghèo dân tộc Dao thôn Bồ Xồ tổ chức câu lạc bộ (CLB) sản xuất gà an
toàn sinh học theo quy mô hàng hoá nhỏ định hướng thị trường”. Về phía
xã có bí thư đảng uỷ xã, đại diện UBND, Hội phụ nữ và đoàn thanh niên.
Đây là cuộc gặp thứ ba giữa hai bên, kể từ cuộc họp giới thiệu ý tưởng
dự án do RDSC thực hiện trong năm 2011. RDSC và CARE thoả thuận về thực hiện “Dự án hỗ trợ phụ nữ nghèo dân tộc Dao20/01/2012 12:19' AM Ngày 16 tháng 12, RDSC và CARE đã ký các văn bản thoả thuận về thực hiện sáng kiến “Dự án Hỗ trợ phụ nữ nghèo dân tộc Dao thôn Bồ Xồ và Quất tổ chức câu lạc bộ sản xuất gà an toàn sinh học theo quy mô hàng hoá nhỏ định hướng thị trường”, một trong bốn giải thưởng của năm 2011 của Chương trình CASI III được chọn từ hơn 40 ứng viên của các tỉnh miền núi phía bắc. Trung tâm RDSC đã làm các thủ tục xin phê duyệt dự án với UBND tỉnh Phú Thọ từ ngày 30 tháng 12 sau khi hoàn tất các thủ tục mở tài khoản và ký kết các thoả thuận tài chính với CARE và cả ngân hàng. Bài đã đăng: Một tối Toạ đàm về Trồng Lúa ở Thôn Kon J’ri 27/06/2008 08:00' AM Một số kết quả về chia sẻ kinh nghiệm của bà con nông dân Bahnar và không ít các câu hỏi đã phát sinh trong một cuộc toạ đàm khuyến nông tại Trại Thực nghiệm Cộng đồng của RDSC tại thôn Kon J'ri... Tin hoạt động RDSC Kontum tuần 3 tháng 6 năm 2008 20/06/2008 07:12' AM Sau một năm thực hiện các hoạt động phát triển ở xã Dăkrowa, RDSC KT bước vào tuần tổng kết và đánh giá dự án sau một năm hoạt động. Một kế hoạch chuyển tiếp nhằm duy trì trạm thực nghiệm, triển khai xây dựng nhóm sở thích trồng trọt, chăn nuôi, phát triển cộng đồng được xây dựng để tiếp tục triển khai hoạt động của Trạm. Xây dựng Quỹ Lương thực và Quay vòng vật tư trong tháng 6 năm 2008 16/06/2008 12:49' PM Trong tuần hai cuả tháng 6 năm 2008, RDSC Phú Thọ đã triển khai các hoạt động về xây dựng Quỹ công trình vệ sinh tại hai thôn giảm nghèo của xã Tân Lập và lập kế hoạch hoạt động cho dự án Du lịch cộng đồng tại xóm Chiềng và Vượng. RDSC đã tổ chức sinh hoạt định kỳ mạng lưới khuyến nông tự nguyện và mạng lưới tín dụng. Cơ quan cũng xác định nhu cầu của nhóm hộ nghèo về xây dựng Quỹ quay vòng lương thực và Quỹ vật tư nông nghiệp. RDSC cũng chọn được điểm triển khai mô hình trại thực nghiệm nông nghiệp qui mô cấp thôn theo mô hình của RDSC Kontum. Văn phòng RDSC PT tiếp tục theo dõi giám sát các Quỹ chăn nuôi, và củng cố nghiệp vụ kế toán. Trao đổi Kinh nghiệm Khuyến Nông với Bà con Dân tộc Thiểu số, 28 tháng 5 năm 2008 11/06/2008 12:24' PM RDSC đã bắt đầu chương trình khuyến nông tại các thôn Kon Tu, Kon Klor 2 của xã Dak Rwa thị xã Kon Tum trong năm 2006. Từ tháng 6 năm 2007, RDSC đã các hoạt động khuyến nông tại thôn Kon J’ri. Với những kết quả bước đầu, trong ngày 28 tháng 5 năm 2008, cùng với các đối tác trong xã, RDSC tổ chức cuộc tọa đàm với mục tiêu tạo cơ hội để các đối tác để trao đổi, chia sẻ các kinh nghiệm khuyến nông, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và hợp tác giữa các tổ chức khuyến nông trong và ngoài nhà nước tại Kontum. Phân bổ kết quả tăng trưởng trong các nhóm dân tộc ít người 14/05/2008 08:52' AM Các tổ chức nghiên cứu và các NGO tại Việt Nam có thể quan tâm đến kết quả phân tích mức độ hưởng lợi từ quá trình tăng trưởng trong thời kỳ Đối mới phân bổ theo các nhóm dân tộc ở Việtnam. Nghiên cứu này do Viện IDS (Anh Quốc) va Trung Tâm Phân tich Dự báo (Viện Khoa học Xã hội) thực hiện dựa trên bộ số liệu điều tra mức sống dân cư năm 1993, 1998, và 2004. |