RDSCVN
Đang tải dữ liệu...

Giới thiệu RDSC    |    Tin tức sự kiện    |    Diễn đàn    |    IDMA    |    Video    |    Âm thanh    |    Gallery    |    Slide show

Trưng cầu ý kiến
Dành cho các anh/chị kế toán.
Trong thực tế, Anh/chị dùng phần mềm kế toán chuyên dụng chủ yếu để làm việc gì? Không chọn quá 3 phương án.
 
Hỗ trợ trực tuyến
Các dự án phát triển

Xây dựng năng lực của hệ thống khuyến nông cơ sở để cải thiện kết quả sinh kế cho người nghèo

RDSC

Xây dựng năng lực của hệ thống khuyến nông cơ sở để cải thiện kết quả sinh kế cho người nghèo

Đặng Ngọc Quang, ThS Phát triển Cộng đồng

Nguyễn Phạm Thu Huyền, Kỹ sư Nông nghiệp

Đặng Đình Thành, Kỹ sư Nông nghiệp

1. Đặt vấn đề

Từ tháng 10 năm 2004 đến tháng 10 năm 2007, Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn (RDSC) đã thực hiện Dự án “Tăng cường sự Tham gia của Nhân dân trong Phát triển Kinh tế Xã hội tại tỉnh Phú Thọ” trên phạm vi 10 xã của hai huyện Thanh Sơn (đã tách thành huyện Thanh Sơn và Tân Sơn từ đầu năm 2007) và Thanh Thủy. Sau ba năm thực hiện, RDSC tổ chức một cuộc đánh giá cuối kỳ để làm rõ tác động của hoạt động khuyến nông tới phụ nữ và người nghèo, người dân tộc thiểu số.

Đoàn Đánh giá[1] thực hiện bằng phương pháp định tính qua đối chiếu hai nhóm mẫu chọn từ các hộ nghèo của thôn Dặt (thôn thực nghiệm) và với thôn Dụt Dàn (thôn đối chứng) trong cùng một xã Thạch Kiệt[2], huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Với nhóm hộ nghèo trong mỗi thôn, đoàn đánh giá đã chọn 8 mẫu để “phỏng vấn linh hoạt”, trong đó có một nửa là nữ. Ở thôn Dặt, cả 8 mẫu phỏng vấn đều tham gia Quỹ Tín dụng do dự án xây dựng. Trong 4 người nam được phỏng vấn, có 1 người mà gia đình đang thực hiện mô hình quỹ quay vòng chuồng trại. Trong 4 người nữ của thôn Dăt, có một người mà gia đình thực hiện mô hình quỹ nuôi chia bò và một người trong gia đình thực hiện mô hình công trình vệ sinh.

Ở hai thôn, đoàn đánh giá cũng phỏng vấn trưởng thôn, đồng thời là khuyến nông viên thôn, và tổ trưởng Chi hội phụ nữ. Ở cấp xã, đoàn đã phỏng vấn đại diện của Ban Phát triển xã, và khuyến nông viên xã, Chủ tịch Hội phụ nữ kiêm Giám đốc Quỹ Tín dụng, và đại diện Hội đồng Nhân dân xã.

2. Xã thực hiện dự án

Thạch Kiệt là một trong 10 xã mà RDSC có thực hiện các hoạt động của dự án. Xã có 14 thôn, với 12 thôn người Mường và 2 thôn người Dao. Xã có 759 hộ, trong đó dân tộc Mường 61%, dân tộc Dao 19%, tỷ lệ các hộ nghèo trong xã rất cao ở mức trên 50%.

Là một xã dân tộc miền núi mới được công nhận là xã 135 từ tháng 4 năm 2007, xã được nhận một số chương tình hỗ trợ như Chương trình134 (xoá nhà tạm) có hỗ trợ vốn 5 triệu/hộ. Chương trình này đã xoá được 105 nhà của 12 thôn. Chương trình 135 hỗ trợ xã làm đường liên thôn đi qua thôn Dụt Dàn và thôn Chiềng. Ngân hàng Chính sách hiện cho người nghèo vay với lãi suất thấp 0,65% với tổng số vốn đã giải ngân là 1,7 tỷ VND. Chương trình 135 cũng hỗ trợ giá lúa thông qua hệ thống khuyến nông huyện cho các thôn nghèo từ năm 2005.

UCODEF là một tổ chức phi chính phủ quốc tế (INGO) của Italy đã hỗ trợ xã xây dựng một trạm thuỷ điện nhỏ ở thôn Lóng để cung cấp điện cho 60 hộ, trong đó có 30 hộ người Dao. Ngoài ra, dự án 135 do Ngân hàng Thế Giới (WB) tài trợ cũng hoạt động tại xã từ tháng 6 năm 2007, với các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng như trường học, giao thông, thuỷ lợi nội đồng. Hiện tại, dự án WB đang thực hiện tại thôn Cường Thịnh I và II. Hệ thống khuyến nông nhà nước còn triển khai các mô hình như mô hình lúa lai năm 2007, làm dịch vụ cung cấp giống ngô, lúa, khoai tây, và khoai lang.

3. Hai cộng đồng nghiên cứu

Thôn thực nghiệm (thôn Dặt), là một thôn nông nghiệp cách trung tâm xã khoảng 2 Km, có thể đến thôn bằng xe máy. Thôn được con sông Bứa chia thành 2 chòm xóm; một một chòm có 35 hộ sống dưới những quả đồi; trẻ em muốn đi học phải qua sông để đến trường. Người lớn muốn đi chợ cũng phải qua sông như vậy. Chòm còn lại có 21 hộ sống dọc đường sang bên kia sông. Với 56 hộ (có tới 28 hộ nghèo), cả thôn có 218 khẩu với 90% là người Mường. Hầu hết các hộ gia đình là thuần nông tuy nhiên có 7 hộ thuần phi nông nghiệp; họ là hộ có giáo viên hoặc buôn bán nhỏ.

Về đất nông nghiệp, thôn có 10,2 ha, trong đó có 5,5 là đất lúa một vụ, còn đất lúa hai vụ là 6,92 ha. Diện tích đất lâm nghiệp của thôn khá rộng có đến 314 ha, trong đó phần diện tích đã giao cho dân trồng keo là 89 Ha, và trồng chè là 1,7 ha. Phần còn lại là của đất lâm nghiệp là rừng khoanh nuôi do Lâm trường Tam Sơn quản lý. Tổng diện tích đất của thôn là 430 ha.

Trong thôn, khuyến nông huyện có tập huấn và cấp giống về trồng chè, trồng khoai tây, khoai lang, bí đao. Chưong trình 134 đã xoá nhà tạm cho 5 hộ. Ngân Hang Chính Sách (NHCS) cho vay được 230 triệu cho 42 hộ nghèo.

Thôn đối chứng (thôn Dụt Dàn) có 78 hộ, trong đó hộ nghèo 68 hộ. Số dân trong thôn là 315 người, trong đó 90% người Mường, cũng giống như thôn thực nghiệm. Thôn có thể được chia làm ba chòm dân cư. Một chòm ở gần Quốc lộ 32, và hai chòm kia ở phía trong chân núi cách quốc lộ khoảng 1,5km. Về đất canh tác, thôn có 21,2 ha đất nông nghiệp, nhiều gấp đôi thôn đối chứng. Đất một vụ của thôn là 14Ha, đất hai vụ --4,2ha. Ngoài ra, thôn có 0,72Ha mặt nước ao được dùng nuôi cá và có 19,5ha đất lâm nghiệp được sử dụng để trồng keo; trên diện tích keo mới trồng, nhân dân có trồng xen 20 ha sắn. Ngoài ra, người dân còn mới trồng 0,5ha chè rải rác theo rìa đồi keo. Trong thôn có 5 hộ phi nông nghiệp. Trong thôn, nhà nước hiện đang thực hiện Chương trình 134 và đã xoá nhà tạm cho 11 hộ. Chương trình cũng làm 2 Km đường cấp phối từ đường Quốc lộ 32 vào thôn. Ngân hàng Chính Sách cũng đang cho các hộ nghèo vay vốn với mức 262 triệu đồng và rải ngân cho 52 hộ thông qua Chi hội phụ nữ.

4. Cách khuyến nông truyền thống

Qua các cuộc phỏng vấn, có thể thấy khuyến nông xã được tham gia các tập huấn do Trạm khuyến nông huyện tổ chức; sau đó họ phổ biến các kiến thức tiếp thu được qua các cuộc giao ban tháng với các khuyến nông viên thôn (cũng chính là các Trưởng Thôn). Phương pháp phổ biến khuyến nông là tham khảo tài liệu và kiến thức đi tập huấn, rồi đọc lại cho cộng đồng nghe. Hệ thống khuyến nông huyện cũng tổ chức các mô hình khuyến nông, nhưng người thực hiện chủ yếu là các hộ khá. Các mô hình chủ yếu được áp dụng với các hộ khá có đủ đất đai, vốn đầu tư và lao động. Khuyến nông cơ sở cũng còn làm đại lý cung cấp giống và phân bón cho nông dân sau khi phổ biến và tổ chức cho nông dân đăng ký. Khi đó, khuyến nông xã là đơn vị trung gian thực hiện các chương trình hỗ trợ vật tư như giống lúa và các loại giống rau màu.

Trong hệ thống khuyến nông, khuyến nông viên xã không nằm trong biên chế, và chỉ hưởng một khoản phụ cấp khá thấp ở mức 150 ngàn đồng một tháng. Với khuyến nông cơ sở, họ không có phụ cấp gì, và việc này thường do trưởng thôn kiêm nhiệm luôn. Với cơ chế động viên có hạn như vậy, việc khuyến nông viên thôn dành thời gian để đưa tiến bộ kỹ thuật cho người dân là khó mong đợi, nhất là càng khó để khuyến nông làm việc với người nghèo, phụ nữ và người dân tộc thiểu số.

5. Hoạt động can thiệp của dự án

Hoạt động chủ chốt của dự án là nâng cao năng lực cho hệ thống khuyến nông cơ sở thông qua các lớp tập huấn kỹ thuật về chăn nuôi thú y, trồng trọt, thăm quan các mô hình trong và ngoài huyện, trong tỉnh và ngoài tỉnh. Kết quả dự kiến của hoạt động này là thay đối thái độ và cách thức phục vụ của khuyến nông với sự thiên vị cho người nghèo, có nhận thức giới rõ và người dân tộc thiểu số.

RDSC đã đặt hàng với Trạm thú y huyện mở các lớp tập huấn kỹ thuật thú y cơ bản và nâng cao cho 14 thành viên thú y cộng đồng chọn từ tất cả các thôn trong xã để các thú y viên có đủ kiến thức và kỹ năng khám chữa bệnh gia súc cho gia cầm phục vụ cho cộng đồng. Để phù hợp với điều kiện làm việc và học tập của của hội viên, khóa tập huấn tổ chức thành hai đợt: một đợt tập huấn thú y cơ bản vào tháng 7 năm 2005 và đợt thứ hai vào tháng 8 năm 2007, tổng cả hai đợt 26 ngày. Để củng cố các kỹ năng cho các học viên, các thành viên các Hội thú y được tư vấn định kỳ qua các tháng sinh hoạt tổ do cộng tác viên thú y là Tổ trưởng Tổ thú y của xã Tu Vũ, tới làm xúc tác viên. Trong các buối sinh hoạt nhóm, các thú y y viên cộng đồng được chia sẻ kinh nghiệm và tư vấn để giải quyết các vướng mắc đã gặp trong tháng.

Ngoài Hội Thú y của xã, RDSC đã hỗ trợ xây dựng một số tổ chức cộng đồng khác. Ví dụ, Tổ Nuôi Ong được hình thành và triển khai trên toàn xã từ năm 2005; Các tổ chức khác là Tổ Sản xuất lợn giống Móng cái và các mô hình trồng cây thức ăn gia súc. Năm 2007, RDSC tổ chức Quỹ Nuôi Chia Bò.

Tại, Thạch Kiệt, RDSC đã áp dụng các bài học thành công tại huyện Thanh Thủy, ví dụ như mô hình như Quỹ tín dụng Phụ nữ và Quỹ công trình vệ sinh. Cũng giống như ở các mô hình trước đây, RDSC đã thực hiện các hoạt động tập dượt về lôi cuốn sự tham gia có tác động đến hệ thống khuyến nông cơ sở như xây dựng “Công trình thủy lợi và cầu phao qua sông” cho cộng đồng.

Các kỹ năng của hệ thống khuyến nông cơ sở và khuyến nông thôn được tập trung phát triển có các kỹ năng theo dõi giám sát, kỹ năng tổ chức cuộc họp, kỹ năng lôi cuốn sự tham gia của người nghèo và phụ nữ, kỹ năng thực nghiệm mô hình và tư vấn hướng dẫn kỹ thuật, cũng như kỹ năng nhân rộng mô hình. RDSC đã thay đổi được các thực hiện các dự án cộng đồng với người nghèo, cụ thể là ưu tiên người nghèo, phụ nữ thông qua cách lựa chọn thành viên tham gia mô hình là các hộ nghèo, miễn giảm các đóng góp cho các hộ nghèo trong các công trình công cộng như đường, hoặc hệ thống thuỷ lợi.

6. Sự thay đổi với khuyến nông xã

Sau ba năm hoạt động với dự án của RDSC, các khuyến nông xã cho rằng sau các khóa đào tạo và tập huấn theo dõi giám sát, và với sự kèm cặp hỗ trợ của cán bộ dự án thông qua các mô hình và các tổ, quỹ chăn nuôi trong địa bàn xã, họ đã hoạt động hiệu quả và hiệu suất cao hơn, nắm được các làm việc với người nghèo, và đã thể hiện sự quan tâm và hỗ trợ người nghèo rõ rệt hơn trước.

Các cuộc phỏng vấn của 16 người trong các hộ của cả hai khu cho thấy, thú y xã môĩ năm tổ chức tiêm phòng hai đợt với các loại bệnh như tụ huyết trùng và lở mồm long móng đối với gia súc, đối với gia cầm tiêm phòng H5N1 và phun thuốc khử trùng trên toàn thôn. Một người nghèo cho biết: “Trước kia, thôn chúng tôi không bao giờ tiêm phòng dịch bệnh cả. Từ năm 2005 và 2006 đến nay, đội thú y xã đã thường tổ chức tiêm phòng. Họ cũng đi kiểm tra và hướng dẫn bà con cách vệ sinh chuồng trại nên bây giờ cũng ít dịch bệnh hơn trước. Nhờ họ, chúng tôi cũng biết được sự nguy hiểm của các bệnh dịch đến tính mạng con người, nhất là với trẻ em và phụ nữ. Trước kia, khi trâu bò chết chúng tôi thường mổ chia nhau ăn, và gà cũng thế. Bây giờ không ai dám ăn nữa. Nếu có gia súc chết, chúng tôi gọi thú y vào kiểm tra. Nếu không ăn được thì mang chôn”.

Trong cuộc phỏng vấn cán bộ thú y và khuyến nông xã, anh T.V.T, tổ trưởng tổ thú y cộng đồng xã cho biết: “Năm 2004 tôi được trạm thú huyện cử đi học lớp sơ cấp thú y tại Khải Xuân trong 14 ngày. Học chủ yếu là lý thuyết, còn thực hành rất ít. Đến năm 2005, tôi được tham gia tiếp khóa tập huấn thú y của RDSC trong hai đợt 26 ngày. Tôi thấy đã được thực hành nhiều và làm được luôn. Đồng thời tôi còn học được phương pháp tập huấn lại cho bà con. Thông thường, khi tôi đi chữa bệnh hoặc tiêm phòng ở khu nào, thì tôi tư vấn và hướng dẫn về chăn nuôi và thú y tại đó luôn”. Một khuyến nông viên phụ trách về trồng trọt cho biết: “Ngày trước, tôi học trung cấp lâm nghiệp về tài chính. Do chỉ học sơ về nông nghiệp, nên tôi không biết nhiều về kỹ thuật trồng trọt và phương pháp làm với người dân, đặc biệt là với người nghèo. Hiện nay, trong công việc, tôi áp dụng chủ yếu các phương pháp học được từ dự án, như tổ chức họp dân lấy ý kiến của dân và theo dõi giám sát các mô hình, hướng dẫn kỹ thuật trên đồng ruộng mỗi khi tôi đi kiểm tra tại các khu trong xã.”

7. Sự thay đổi với khuyến nông thôn

Thông thường, khuyến nông viên thôn thường là trưởng thôn kiêm nhiệm. Do đó, trong dự án, họ đều được tham gia các mô hình, các quỹ chăn nuôi, các khóa tập huấn kỹ thuật, các cuộc Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm khuyến nông và giảm nghèo. Ngoài ra, khuyến nông thôn còn tham gia các khóa tập huấn trồng chè và an toàn lương thực do nhà nước tổ chức. Ở thôn Dụt Dàn là thôn đối chứng, khuyến nông thôn không tham gia các hoạt động đào tạo, tập huấn, họ cũng không tham quan hội thảo về chủ đề khuyến nông giảm nghèo.

Với khuyến nông viên ở thôn thực nghiệm, các can thiệp của dự án được thực hiện qua tham gia của cộng đồng đặc biệt là người nghèo, phụ nữ và người dân tộc thiểu số trong các khâu khuyến nông. Một khâu quan trọng thể hiện sự thiên vị với hộ nghèo và phụ nữ là chọn hộ tham gia. Các mô hình trồng cây thức ăn gia súc, Quỹ nuôi chia bò, ưu tiên hộ nghèo vay vốn tín dụng, tư vấn hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi và trồng trọt khu thực hiện Quỹ tín dụng và Quỹ công trình vệ sinh đều có tiêu chí ưu tiên cho hộ nghèo, phụ nữ dân tộc. Sự ưu tiên còn thể hiện qia các tư vấn kỹ thuật cho cộng đồng, có chú ý đặc biệt tới phụ nữ và người nghèo, theo cách thức cầm tay chỉ việc, trong việc hướng dẫn cấy lúa, bón phân, và qua các cuộc họp phổ biến và hướng dẫn kỹ thuật phòng trừ dịch bệnh hại cây trồng. Trong thôn can thiệp, khuyến nông viên đã cùng cán bộ dự án tự thiết kế mô hình trồng trọt và thực hiện mô hình cho người dân trong thôn xem, và hướng dẫn chi tiết kỹ thuật làm trong trồng ngô, trồng bí xanh, và trồng rau.

So sánh hai thôn đối chứng và thôn can thiệp cho thấy, năng suất lúa ở Dụt Dàn trong các hộ tham vấn chỉ đạt từ 100kg đến 150kg/sào/vụ là cao nhất. Trong khi đó, ở thôn thực nghiệm, năng suất lúa đạt tới 150kg đến 180kg/sào/vụ.

Tuy khuyến nông viên của thôn đối chứng cũng có đi khảo sát các cánh đồng lúa trong khu và thông báo cho dân, kiến thức của khuyến nông viên đã không đến với dân. Khi đoàn đánh giá hỏi về cách nhận biết các loại sâu bệnh hại lúa và hoa mầu, thì người nông dân ở thôn Dụt Dàn không biết rõ. Kiến thức đọng lại qua các buổi họp thôn có thông báo lại nội dung khi đi họp trên xã, hoặc đọc lại tài liệu khi đi họp được phát tay và và hướng dẫn sử dụng theo bao bì ghi trên sản phẩm rõ ràng có nhiều hạn chế. Điều này thua đáng kể so với thôn thực nghiệm.

Trong cả hai thôn đối chứng và thực nghiệm đều có thú y viên thôn, tuy nhiên tại thôn đối chứng (Dụt Dàng), khuyến nông viên và thú y đã không phối kết hợp được với nhau. Thôn không đưa ra được các định hướng cũng như phương pháp đạt được mục tiêu phát triển kinh tế của thôn. Hệ thống chăn nuôi ở Dụt Dàng chủ yếu theo hình thức thả rông, trái lại ở thôn thực nghiệm, chăn nuôi chủ yếu theo phương thức nuôi nhốt và gia súc được tiêm phòng dịch trong suốt quá trình nuôi. Tại thôn đối chứng, khuyến nông viên đã có cải thiện về năng lực kỹ thuật và phương pháp thực hiện ưu tiên người nghèo và phụ nữ. Ở đây, khuyến nông viên thôn đã tự tìm giống ngô, giống bí xanh và thực nghiệm trồng thử. Sau đó, anh đã tuyên truyền cho cả thôn và tư vấn kỹ thuật cho người dân trong các buổi họp thôn. đồng thời ngành chăn nuôi của thôn cũng được cải thiện từ chăn nuôi thả rông, không đầu tư chuyển sang chăn nuôi nhốt có đầu tư. Ở thôn đối chứng, chưa thấy khuyến nông viên thôn có các hoạt động tự lực về thực nghiệm trồng trọt cho phù hợp với địa bàn trong thôn.

8. Đánh giá của cộng đồng đối với khuyến nông thôn

Theo những người được phỏng vấn, từ khi thực hiện dự án đến nay, các khuyến nông viên của cả hai thôn đối chứng và thực nghiệm đều đã quan tâm đến trồng trọt và chăn nuôi của người dân nhiều hơn trước kia. Tất cả các thành viên tham gia tham vấn đều nhận xét giống như một người đã trả lời: “Hai ba năm nay khuyến nông thôn nhiệt tình và thường đi kiểm tra chủ yếu về trồng lúa và hoa màu. Nếu có sâu bệnh là ông trưởng thôn tổ chức cuộc họp gấp thông báo ruộng nhà ai đang bị bệnh và hướng dẫn cách phòng và trị cho toàn khu biết”.

Theo đánh giá của cộng đồng, sự khác biệt giữa thôn thực nghiệm và đối chứng rõ rệt ở phương pháp làm việc của khuyến nông với người dân. Với thôn thực nghiệm, 75% ý kiến người dân tham vấn cho là họ được khuyến nông viên thôn hướng dẫn kỹ thuật trồng lúa, ngô, các loại rau màu khác và cách phòng trừ và phát hiện sâu bệnh thông qua cuộc họp và hướng dẫn trên đồng ruộng theo hình thức cầm tay chỉ việc. Ngoài ra, khuyến nông viên thôn còn thu hút được sự chú ý cao của người dân trong các cuộc họp hoặc các cuộc phổ biến kỹ thuật và các cuộc họp bàn về các công trình phúc lợi tại thôn. Với tư cách là trưởng thôn, khuyến nông viên thôn đã ưu tiên hơn với người nghèo và phụ nữ trong hướng dẫn kỹ thuật thâm canh lúa tại ruộng. Các hộ nghèo cũng được ưu tiên giảm mức đóng góp trong xây dựng các công trình công cộng, được hướng dẫn phòng chống dịch bệnh và trị bệnh gia súc tại nhà. Thú y viên của thôn đã miễn giảm về phí khám chữa trị bệnh gia súc gia cầm cho người nghèo.

Với thôn đối chứng, cũng có 75% ý kiến cho là cộng đồng được khuyến nông thôn tuyên truyền và hướng dẫn, nhưng theo hình thức đọc tài liệu cho cộng đồng nghe, kể cả khi hướng dẫn phòng trừ dịch bệnh. Nội dung khuyến nông chính là phổ biến lịch mùa vụ và giới thiệu các loại giống mới. Các cuộc họp do khuyến nông viên thôn tổ chức chỉ đạt 60% số hộ trong thôn tham gia.

Có thể kết luận rằng, kỹ năng của các khuyến nông viên thôn ở thôn thực nghiệm có sự thay đổi rõ rệt theo hướng “xây dựng kỹ năng” cho người dân và tăng cường sự tham gia của cộng đồng.

9. Tác động của khuyến nông đối với người nghèo và phụ nữ

Các hoạt động can thiệp của RDSC đã đem lại những thay đổi đáng kể và quan sát được trong cộng đồng người nghèo, phụ nữ về những khía cạnh an toàn lương thực, thu nhập, chi tiêu cho tài sản gia đình và bình đẳng giới.

Mức độ an toàn lương thực

Khi phỏng vấn về mức độ đủ ăn của hai thôn thực nghiệm và đối chứng, có thể thấy người dân nghèo có mức an toàn lương thực cao hơn ở thôn thực nghiệm. Trong thôn thực nghiệm, có 50% số người tham vấn kể lại trước khi thực hiện dự án mức thiếu lương thực của họ là từ 6-8 tháng. Đến nay mức thiếu ăn đã giảm khá nhiều; chỉ còn 2-3 tháng. Với thôn đối chứng, 50% ý kiến của người phỏng vấn cho rằng trước kia thiếu ăn đến 6-8 tháng và bây giờ vẫn thế.

Thay đổi trong thu nhập

Thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình cũng thay đổi và khác biệt đáng kể khi so sánh giữa hộ của thôn đối chứng và thôn thực nghiệm. Về thu nhập, có nhiều hộ ở cả hai thôn cho rằng thu nhập của chăn nuôi cũng như trồng trọt và dịch vụ làm thuê của năm 2007 đều tăng lên so với 2004. Tuy nhiên, khi so sánh giữa hai thôn, ở thôn Dặt (thôn thực nghiệm) 100% hộ nghèo được phỏng vấn đều trả lời thu nhập từ chăn nuôi tăng lên, và 75% hộ thu nhập từ trồng trọt tăng lên. Nhưng ở thôn Dụt Dàn thì tỷ lệ này thấp hơn nhiều, và chỉ ở mức một phần ba người trả lời.

Điều này có thể lý giải qua việc các hộ nghèo ở thôn Dặt trong ba năm qua đã chú trọng vào chăn nuôi và trồng trọt do chủ động về vốn khi được vay vốn tín dụng từ phụ nữ để chăn nuôi gia súc nhỏ (lợn), và gia cầm (gà, vịt ). Còn thu nhập từ trồng trọt tăng lên chủ yếu là dự án hỗ trợ xây mương từ năm 2005 nên nông dân đã chủ động được nước tưới. Hơn nữa, đồng thời các hộ nghèo đã sử dụng phân bón đúng cách và dùng giống mới nên trồng trọt có hiệu quả hơn.

Tác động với tài sản của các hộ gia đình

Trong ba năm qua, ở cả hai thôn các gia đình đều có nhiều cải thiện về tài sản. Tại thôn thực nghiệm, dân làng đã xây được 5 nhà xây bán kiên cố, còn ở thôn đối chứng dân làng đã cũng phát triển thêm được 3 nhà xây bán kiên cố. Một số hộ nghèo ở cả hai thôn đã xây nhà với các khoản tiền huy động thêm để phụ với khoản hỗ trợ của chính phủ (ở mức 5 triệu đồng/hộ). Với tài sản và vật dụng gia đình, thôn thực nghiệm nổi trội hơn thôn đối chứng rõ rệt, ví dụ về số hộ mua ti vi mầu hoặc xe máy. Trước khi thực hiện dự án, trong thôn thực nghiệm chỉ có 10 xe máy, hiện tại có tới 25 chiếc. Nhiều hộ mua thêm các vật dụng mới như tủ bàn, gường.

Tác động giới trong các hộ gia đình

Mối quan hệ thiên vị giới trong khuyến nông ở thôn thực nghiệm đã thể hiện sự cải thiện vị thế của phụ nữ trong gia đình. Các hộ nghèo và phụ nữ tại thôn thực nghiệm được ưu tiên vay vốn tín dụng, được tư vấn trong sản xuất và đầu tư vào sản xuất. Qua tham gia các sinh hoạt của các tổ chức cộng đồng, họ có nhiều điều kiện để học hỏi, giao lưu và cả thiện quan hệ xã hội. Khi hộ nghèo thực hiện mô hình, bản thân họ được cung cấp kiến thức về nông nghiệp và cải thiện được giao tiếp xã hội. Không chỉ kiến thức nông nghiệp. mà quan hệ xã hội và cộng đồng của họ được tăng rõ rệt.

Khi phỏng vấn ở thôn thực nghiệm về quan hệ trong gia đình, các hộ đều công nhận sự thay đổi đáng kể là trước kia đàn ông thường quyết định mọi công việc cuả gia đình, nhất là trong sản xuất. Tuy nhiên, hiện nay tất cả các hộ xác nhận là cả 2 vợ chồng cùng bàn bạc và quyết định các việc quan trọng trong gia đình. Phụ nữ bây giờ cũng có quyền quyết định trong chăn nuôi và vay vốn tín dụng. Ngược lại, các hộ ở thôn đối chứng đều xác nhận từ trước đến nay thì mọi mối quan hệ giữa vợ và chồng không có gì thay đổi cả.

Kết luận, hạn chế của đề tài và khuyến nghị

Kết luận

Kết quả đánh giá định tính điển cứu ở hai thôn cho thấy các giả thuyết của dự án về khả năng nâng cao an toàn lương thực và chất lượng cuộc sống thông qua xây dựng năng lực của hệ thống khuyến nông cấp thôn xã là có cơ sở thực nghiệm ban đầu. Các hoạt động nâng cao năng lực của khuyến nông viên cơ sở đã có tác động cải thiện mức độ đủ ăn, thu nhập, chi tiêu mua sắm tài sản và quan hệ bình đẳng giới trong các gia đình nghèo.

Qua so sánh hoạt động của tổ chức khuyến nông cấp xã, và khuyến nông hai thôn thực nghiệm và đối chứng, đoàn đánh giá đã quan sát được là các hoạt động mà dự án của RDSC đã cải thiện năng lực của hệ thống khuyến nông cơ sở cụ thể họ đã hoàn thiện các kỹ năng về thực nghiệm mô hình, lãnh đạo tổ chức, tiến hành các cuộc họp cộng đồng, đánh giá nhu cầu, năng lực phối hợp giữa các thành viên của hệ thống khuyến nông để phục vụ cộng đồng, người nghèo và phụ nữ tốt hơn. Đặc biệt, khuyến nông viên thôn thực nghiệm đã thực hành thử nghiệm kỹ thuật nông nghiệp và truyền bá kỹ năng theo phương thức “cầm tay chỉ việc”, là một cách làm được thừa nhận phù hợp và có hiệu quả với người nghèo dân tộc thiểu số. Mặc dầu kết quả đánh giá mang tính điển cứu ở hai thôn, cuộc khảo sát cho thấy các giả thuyết của dự án về khả năng nâng cao an toàn lương thực và chất lượng cuộc sống thông qua xây dựng năng lực của hệ thống khuyến nông cấp thôn xã là có cơ sở thực nghiệm ban đầu.

Trong thôn thực nghiệm, người nghèo và phụ nữ tiếp cận (biết, sử dụng, và đề cao) các dịch vụ của hệ thống khuyến nông cơ sở và các tổ chức cộng đồng được hình thành để phục vụ người nghèo và phụ nữ như Quỹ tín dụng, Quỹ Công trình vệ sinh, và các Quỹ tự có khác của Chi hội Phụ nữ. Người nghèo và phụ nữ đã chủ động hơn trong quá trình phát triển sản xuất như vay vốn đầu tư cho chăn nuôi, mua phân bón.

Hạn chế của đề tài và khuyến nghị về những hướng nghiên cứu

Đoàn đánh giá cũng ghi nhận quá trình giảm nghèo và cải thiện chất lượng cuộc sống của người nghèo dân tộc thiểu số ở nông thôn miền núi diễn ra trong bối cảnh có nhiều chính sách của nhà nước dành riêng cho người nghèo. Những chương trình đó có những nguồn lực lớn hơn nhiều so với nguồn lực của RDSC, như chương trình vay vốn ưu đãi, chương trình trợ cước trợ giá với giống, và phân bón, chương trình ưu đãi về khám chữa bệnh miễn phí, miễn giảm học phí, hoặc các chương trình dành cho cả cộng đồng. Từ các khảo sát khác của RDSC, người nghèo dân tộc chưa được hưởng hoặc được hưởng chưa đầy đủ với các chương trình đó. Cuộc đánh giá này chưa tìm hiểu khả năng các hoạt động phát triển cộng đồng mà RDSC thực hiện có thể xúc tác hay thúc đẩy người nghèo và dân tộc biết nhiều hơn, và sử dụng tốt hơn các dịch vụ công đó.

Đề tài cũng có thể tiếp tục hoàn thiện về phương pháp. Cụ thể, trong thời gian tới với việc bổ xung các số liệu định lượng và nhờ đó cải thiện khả năng tách bạch rành mạch các tác động do dự án của RDSC đem lại với các tác động của chính sách giảm nghèo cũng như tác động của môi trường phát triển kinh tế năng động của đất nước. Quy mô khảo sát ở phạm vi hai thôn thực nghiệm và đối chứng với số mẫu còn hạn chế, cũng là nguyên nhân hạn chế khả năng mở rộng những kết luận của cuộc đánh giá với cả tập hợp gần 80 cộng đồng trong 10 xã của 3 huyện tỉnh Phú Thọ hiện đang tham gia chương trình của RDSC./. DNQ



[1] Đoàn đánh giá gồm ba thành viên Đặng Ngọc Quang (Thạc sĩ phát triển cộng đồng), Nguyễn Phạm Thu Huyền (Kỹ sư nông nghiệp),Đặng Đình Thành (Kỹ sư nông nghiệp) và Dương Thị Phương Duyên (Kỹ sư Khuyến nông) là cán bộ của Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn, có trụ sở tại Hà Nội, và Chi nhánh ở Phú Thọ.

[2] Thạch Kiệt là một trong ba xã tham gia dự án do RDSC thực hiện ở huyện Thanh Sơn; cũng là 1 trong 10 xã dự án trong vùng hoạt động của RDSC tại tỉnh Phú Thọ.

Số lượt đọc:  257  -  Cập nhật lần cuối:  12/03/2009 08:46:50 AM
Bài mới:  
Bài đã đăng:
Các bài được đọc nhiều nhất
23/11/2009 12:49' PM
Tham quan trại nuôi gà và nuôi giun tại xã Xuân Lũng
14/09/2009 03:52' PM
Kỹ thuật chăn nuôi thỏ quy mô hộ gia đình tại Phú Thọ
26/11/2006 01:19' AM
Tài liệu về Chương trình 135 Giai đoạn 2 (2006-2010)
08/04/2009 05:33' AM
Vai trò giới trong phân công lao động gia đình ở Việt Nam qua những biến động xã hội
16/07/2006 09:01' AM
Kỹ thuật Trồng và Chăm sóc Tre Bát độ để lấy Măng
24/06/2006 08:54' AM
Viết Thu hoạch sau Cuộc Tham quan Học tập
14/09/2009 10:06' PM
Kỹ thuật trồng nấm mèo
15/06/2010 08:40' PM
Mẹo sử dụng và cài đặt font tiếng Việt cho SPSS 15 và 16
11/03/2009 05:51' AM
Chia sẻ kỹ thuật chăm sóc heo nái khi sanh sản và hậu sanh sản
21/02/2008 09:24' AM
Hướng dẫn lập và sử dụng trang web qua My.opera.com
Đăng ký nhận tin thư
Họ và tên:
Email:
Tổng số lượt truy cập: 5.776.216
Số người trực tuyến: 29

©2004 Bản quyền Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn - RDSC
Số 2 nhà D, 45/39 Hào Nam, Đống Đa, Hà Nội,Việt Nam
Email: rdsc@netnam.vn - Phone: +84-4-3-512 1175 - Fax: +84-4-3-512 1175
Website được xây dựng trên Công nghệ ViePortal của Hanoi Software JSC