|
Đặng Đình Thành, RDSC Phú Thọ
Ngày 10 tháng 5 năm 2007
1. Vài nét về xã Yên Lương
Xã Yên Lương nằm về phía Đông Nam huyện Thanh Sơn có trục đường tỉnh lộ 24 chạy qua trung tâm xã. Xã Yên Lương gồm 11 khu hành chính. Tổng diện tích đất tự nhiên là 3149ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 7,95%, đất Lâm nghiệp chiếm 48%, đất đồi hoang và suối là 42.4%. Địa hình đồi núi nhiều, diện tích canh tác hẹp chủ yếu quanh các khe núi. Xã phân bố thành 3 vùng chính là vùng núi cao, vùng giữa và vùng trũng.
Xã Yên Lương có 3 dân tộc chung sống đó là dân tộc Mường, Dao, Kinh, người Mường chiếm 90% tổng số dân toàn xã. Trong xã có tổng số 838 hộ và dân số là 3.737người, trong đó số người trong độ tuổi lao động là 58.65%. Số hộ nông nghiệp trong xã chiếm 90%. Về chăn nuôi, xã Yên Lương có đàn gia súc với 4105 con và đàn gia cầm có 26.225con.
Xã Yên Lương là xã trung Bình không nằm trong diện xã nghèo trong chương trình 135 của chính phủ. Người dân của xã Yên Lương chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa nước và làm nương dẫy, nhưng đất tại đây chủ yếu là các khe núi và các dãy núi cao, nhiều chỗ là các dẫy núi đá vôi nên việc thâm canh và sản xuất rất khó khăn. Yên Lương không có khu chế biến hoặc khu lâm nghiệm và các dịch vụ chế biến nào, nên người dân không thể đi làm thêm để tăng thêm thu nhập cho gia đình, do đó người dân thường xuyên khó khăn về mặt tài chính trong gia đình..
Bảng 1: Dân số và thành phần dân tộc xã Yên Lương
|
Tổng số hộ |
838 |
Tổng dân số |
3737 |
|
Hộ người Mường |
620 |
Mường |
2765 |
|
Hộ người Kinh |
101 |
Kinh |
448 |
|
Hộ người Dao |
92 |
Dao |
411 |
|
Hộ người Thái và Tày |
25 |
Thái và Tày |
112 |
Người dân ở đây sống chủ yếu nhờ vào nông nghiệp; các sản phẩm trồng trọt chính là lúa ngô và sắn; chăn nuôi là các loại gia súc như trâu, bò, dê và các loại gia cầm khác. Một số hộ khác có nuôi thủy sản. Tất cả những sản phảm này chủ yếu mang tính tự cung tự cấp, chưa có tính chất sản xuất hàng hoá, do sản xuất không tập trung. Nguồn thu nhập từ đi làm thuê cũng khá quan trọng. Người dân chủ yếu là đi làm thuê cho các mỏ khai thác đá hoặc nhặt đá cảnh, hoặc đi làm thuê ở xa. Số tháng một người đi làm thuê dao động từ 2 đến 5 tháng/năm.
2. Qúa trình hình thành Tổ thú y xã
Tổ thú y cộng đồng xã Yên Lương được thành lập vào tháng 5 năm 2006 và tổ chính thức đi vào hoạt động từ tháng 7 năm 2006. Khi mới thành lập tổ có 9 thành viên nằm trên 11 khu hành chính. Trong đó có 3 người là nữ, 1 người là dân tộc kinh, số thành viên trong tổ còn lại là người dân tộc Mường. Tổ được thành lập theo Quyết định thành lập của UBND xã, tổ hoạt động theo Nôi quy và quy chế rõ ràng, tổ họp định kỳ vào ngày 20 hàng tháng.
Tổ thú y cộng đồng xã Yên Lương được thành lập với mục đích nhằm giảm tỷ lệ dịch bệnh cho gia súc, gia cầm trên địa bàn toàn xã Yên Lương và nâng cao kiến thức chăn nuôi, thú y cho cộng đồng người dân xã Yên Lương huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ
Ứng viên khi tham gia vào tổ thú y cộng đồng đều phải trải qua một cuộc phỏng vấn về kiến thức cũng như kỹ năng của bản thân trong công tác thú y. Sau khi tuyển chọn, Trung tâm đã tuyển được 9 thú y viên được tham gia vào tổ thú y cộng đồng. Khi tham gia, ứng viên đều làm đơn xin gia nhập tổ thú y cộng đồng xã. UBND xã ra quyết định thành lập tổ thú y xã và đăng ký nôi quy và quy chế hoạt động của tổ. Đến nay sau gần một năm thực hiện và được đào tạo qua khóa tập huấn thú y cơ bản, các thú y viên đã có kỹ năng tiêm phòng cho gia súc, gia cầm trên địa bàn xã và điều trị một số bệnh thông thường cho gia súc.
Trong năm hoạt động thứ nhất, các tổ viên tổ thú y đã tham gia 2 khóa tập huấn do Trung tâm tổ chức về cách khám và điều trị một số bệnh thông thường, và pháp lệnh thú y. Phương thức tập huấn có học lý thuyết đi đôi với thực hành. Giảng viên đã hướng dẫn chi tiết và làm mẫu nhắc lại nhiều lần. Phương pháp tập huấn được thực hiện theo phương pháp có sự tham gia, sử dụng các công cụ như tờ lật, các dụng cụ thú y, các loại thuốc thú y thông dụng, con vật sống để thực hành. Tuy nhiên, do các thú y viên phần đa đều là người dân tộc thiểu số, khả năng tiếp thu còn hạn chế chỉ đạt 30% mong đợi. Một hướng cải thiện hiêu quả của tập huấn là tăng cường hơn phần thực hành để giúp cho các thú y viên tiếp thu có hiệu quả hơn.
3. Những kết quả ban đầu
Hiện tại xã Yên Lương, Tổ thú y cộng đồng đã hoạt động liên tục. Các thôn đều có thú y viên. Các tổ viên đã được tập huấn thú y cơ bản do Trung tâm dịch vụ phát triển nông thôn tổ chức tháng 7 năm 2006, và cung cấp dịch vụ tiêm phòng dịch bệnh trong tất cả các khu hành chính (thôn) của xã. Đây là một kết quả nổi bật so với mặt bằng chung của huyện Thanh Sơn.
Tổ hoạt động theo một nội quy và quy chế rõ ràng và vai trò của các bên tham gia. Trong 6 tháng gần đây tổ đã triển khai họp tổ được 4 lần, tuy chưa được đều đặn hàng tháng. Trong cuộc họp tổ, chủ yếu là các thú y viên báo cáo kết quả hoạt động của cá nhân chứ chưa có trao đổi kinh nghiêm cũng như các kiến thức với nhau. Tổ mới chỉ xây dựng kế hoạch hoạt động chung khi có chiến dịch tiêm phòng. Việc thống nhất kế hoạch đều do các thú y viên bàn và xây dựng lên.
Sau khi tập huấn, các thành viên tham gia vào các hoạt động của tổ, thực hiện việc tiêm phòng cho gia súc gia cầm định kỳ và thường xuyên. Các tổ viên điều trị tốt một số bệnh thừơng gặp của gia súc tại xã như bệnh ghẻ, bệnh tụ huyết trùng, và các bệnh đường ruột.
Các thành viên tổ thú y cộng đồng triển khai các hoạt động trong lĩnh vực chăn nuôi thú y trên địa bàn xã. Các hoạt động thường xuyên như tiêm phòng gia súc gia cầm. Đặc biệt trong chiến dịch cúm gà, 100% các thành viên của tổ đều tham gia hoạt động. Công việc khám và chữa bệnh cho gia súc gia cầm cũng được duy trì thường xuyên. Theo đánh giá của Ban phát triển và giảm nghèo xã thì từ khi có Tổ thú y cộng đồng hoạt động thì dịch bệnh gia súc gia cầm đã được kiềm chế.
Bảng 2. Kết quả của tổ thú y cộng đồng, Quí 1 năm 2007
|
Loại vật nuôi |
Tiêm Phòng |
Tỷ lệ |
Điều trị |
|
Khỏi |
Không khỏi |
|
Trâu |
400 |
80% |
10 |
10 |
|
Bò |
360 |
82% |
5 |
5 |
|
Lơn |
500 |
50% |
138 |
120 |
|
Dê |
100 |
60% |
20 |
12 |
|
Chó |
200 |
40% |
7 |
2 |
|
Gia cầm |
7000 |
56% |
- |
- |
|
Thỏ |
|
|
17 |
5 |
|
Các loại khác |
|
|
|
|
4. Thách thức
Hiện tại các thú y viên khi gặp phải các ca bệnh khó đều không sử lý được như các bệnh về sản khoa và các bệnh ngoại khoa, đặc biệt là các bệnh về Dê và các bệnh của chó mèo, thỏ. Các kỹ năng chuyên môn còn yếu của tổ viên được liệt kê tóm tắt dưới đây:
· Đối với trâu bò: Các bệnh ở thể ghép, các bệnh về đường ruột, các bệnh về sản khoa, mổ khám, mổ lấy thai chết lưu, vá mũi Trâu bò
· Đối với lợn: các bệnh thường gặp là đường ruột, ỉa táo kém ăn; và một số bệnh ghép như lépto ghép dịch tả, các bệnh về sản khoa. Và chưa phân biệt được 4 bệnh đỏ của lợn
· Đối với chó: Bệnh viêm gan, sốt cao, ho, ỉa ra máu và gây chết
· Đối với Dê: Bệnh đau mắt phủ màng; Tụ huyết trùng cấp tính
· Đối với Thỏ: Không xác định được triệu chứng
· Đối với gia cầm: Các kỹ thuật về chăm sóc gia cầm non, gia cầm bại liệt, xù lông, gan nát, ỉa phân xanh
Do trình độ của thú y viên còn hạn chế với một số dịch bệnh mới lạ, thú y viên của xã không phát hiện và chữa trị kịp thời, và phải nhờ tới sự hỗ trợ của trạm thú y huyện. Như vậy, Hội thú y xã Yên Lương cần một khóa tập huấn thú y nâng cao hiểu biết về các bệnh gia súc mới trên địa bàn tỉnh, biết thêm cách phát hiện bệnh và triệu chứng của bệnh để có thể ngăn chặn kịp thời về nguồn dịch bệnh, giúp cộng đồng yên tâm trong chăn nuôi gia súc gia cầm.
Tổ cung cấp dịch vụ chính là khám và điều trị bệnh cho gia súc, gia cầm tại địa bàn xã. Hiện tại, tổ chưa có tủ thuốc riêng, đây là một khó khăn đáng kể làm tổ chưa chủ động được thuốc thú y trong điều tri. Khi cần đến thuốc thú y các thú y viên đều phải xuống thị trấn huyện Thanh Sơn, hoặc xuống xã Hoàng Xá của huyện Thanh Thuỷ lấy thuốc cách trung tâm xã từ 25km đến 40km. Như vậy việc chi phí cho đi lại rất tốn kém và không đáp ứng được tính kịp thời. Nhiều khi gia súc, gia cầm bị mắc bệnh người dân đến mời thú y viên, do không có thuốc điều trị các thú y viên đành bó tay.
Hiện tại, trong tổ thú y cộng đồng thì có 1 thành viên có đủ kỹ năng tập huấn các kiến thức về phòng bệnh, kỹ thuật làm chuồng trại gia súc gia cầm cho cộng đồng. Tuy nhiên các thành viên chưa được tham gia khóa tập huấn TOT, vì vậy kỹ năng tập huấn của các thành viên chưa được hòan thiện. Cũng vì vậy, tổ chưa tổ chức tập huấn về kiến thức chăn nuôi thú y cho bà con tại địa phương. Hiện tại trên địa bàn xã, ngoài tổ thú y cộng đồng không có cá nhân hay tổ chức nào hoạt động trên lĩnh vực thú y trên địa bàn xã.
5. Khuyến nghị
RDSC nên tổ chức sớm một khóa tâp huấn nâng cao kiến thức cho tổ, và tập huấn kỹ năng tuyên truyền cho các thành viên. Kinh nghiệm của RDSC cho thấy khoá tập huấn nên được tổ chức trong vòng 12 ngày chia ra 2 đợt tại Trung tâm học tập cộng đồng xã. Thời gian bắt đầu vào ngày 21/5/2007 kết thúc vào tháng 6/2007 vì đây là thời điểm thích hợp nhất cho các thú y viên và cũng là thời điểm chuẩn bị mưa nhiều, vì vậy tình hình dịch bệnh sảy ra trong thời gian này nhiều hơn; các thú y viên khi đó có nhiều cơ hội tham gia thực hành ngay tại cộng đồng.
Về nội dung tập huấn nên bao gồm một số bệnh sản khoa, một số bệnh ghép, bệnh đường ruột, hô hấp, lép to ở trâu bò, lợn, cũng như một số bệnh ở gia cầm như gia cầm bại liệt, xù lông, ỉa phân xanh và một số bệnh của Dê và Thỏ. Các kỹ năng cần có khác là
thực hành khám và sử lý một số bệnh sản khoa, kê đơn thuốc điều trị cho GSGC, nhận biết và điều trị 4 bệnh đỏ ở Lợn, một số bệnh ngoại khoa ở Trâu Bò và Lợn
Phương pháp tập huấn nên theo phương pháp giảng dạy cho người lớn có sự tham gia của học viên dùng nhiều các hình ảnh trực quan và thực hành trên động vật.
Phụ lục: Thành viên tổ thú y cộng đồng xã Yên Lương
|
TT |
Họ Và Tên |
Gới tính |
Địa chỉ |
Dân tộ |
Năm Sinh |
|
1 |
Đinh Thị Phúc |
Nữ |
Khu 1 |
Mường |
1967 |
|
2 |
Đào Thị Hợp |
Nữ |
Khu 8 |
Kinh |
1980 |
|
3 |
Đinh Văn Cường |
Nam |
Khu 4 |
Mường |
1970 |
|
4 |
Đinh Thị Thắm |
Nữ |
Khu 2 |
Mường |
1982 |
|
5 |
Đinh Văn Hùng |
Nam |
Khu Trại |
Mường |
1967 |
|
6 |
Đinh Văn Chúc |
Nam |
|
Mường |
|
|
7 |
Đinh Văn Mạnh |
Nam |
|
Mường |
|
|
8 |
Đinh Văn Hải |
Nam |
|
Mường |
|
|
9 |
Lê Văn Mai |
Nam |
|
Dao |
|
Số lượt đọc:
91
-
Cập nhật lần cuối:
12/03/2009 08:37:07 AM Bài mới:
 Nuôi giun quế ở cộng đồng thôn Quất và Bồ Xồ 01/04/2012 03:44' PM Nuôi giun quế là một hoạt động bổ trợ để thúc đẩy chăn nuôi gà an toàn
sinh học cho các CLB chăn nuôi của chị em dân tộc Dao và Mường ở hai
thôn vùng cao Quất và Bồ Xồ (xã Yên Lương). Tuy được phổ biến rộng rãi
trên báo chí, trên thực tế, trong gần một nghìn hộ ở xã Yên Lương chỉ có
một hộ nuôi giun quế ở quy mô nhỏ, và một điểm nuôi giun trình diễn ở
Trạm thực nghiệm của Trung tâm RDSC. Cả hai điểm đều chưa đủ điều kiện
để cung cấp giun quế giống cho nhân dân trong xã. Hoạt động tổ chức cộng đồng của dự án CASI 3 tại Yên Lương03/03/2012 12:03' PM Trong tháng 2, Dự án CASI 3 Yên
Lương có những hoạt động về tổ chức cộng đồng ở cấp xã và thôn. Dự án đã tổ chức Ban Quản lý và cộng đồng đã hình thành hai CLB và lãnh đạo của CLB tại thôn Quất (phụ nữ Thổ và Mường) và Bồ Xồ (phụ nữ Dao). Các CLB đã đưa ra kế hoạch hoạt động chi tiết của dự án cho tháng 3/2012. Ngành an ninh làm việc với RDSC PT về dự án CASI 316/02/2012 02:50' AM Ngày 14 tháng 2 năm 2012, cán bộ công an của ba cấp, xã Yên Lương, huyện
Thanh Sơn và tỉnh Phú Thọ đã tới thăm và làm việc với Văn phòng RDSC
Phú Thọ. Tiến độ phê duyệt dự án CLB chăn nuôi tổng hợp gia cầm sạch của phụ nữ tại Yên Lương12/02/2012 03:49' PM Chiều ngày 7 tháng 2 năm 2012, nhóm cán bộ RDSC Phú Thọ và lãnh đạo xã
Yên Lương đã có cuộc họp trao đổi về tiến độ phê duyệt dự án “Hỗ trợ phụ
nữ nghèo dân tộc Dao thôn Bồ Xồ tổ chức câu lạc bộ (CLB) sản xuất gà an
toàn sinh học theo quy mô hàng hoá nhỏ định hướng thị trường”. Về phía
xã có bí thư đảng uỷ xã, đại diện UBND, Hội phụ nữ và đoàn thanh niên.
Đây là cuộc gặp thứ ba giữa hai bên, kể từ cuộc họp giới thiệu ý tưởng
dự án do RDSC thực hiện trong năm 2011. RDSC và CARE thoả thuận về thực hiện “Dự án hỗ trợ phụ nữ nghèo dân tộc Dao20/01/2012 12:19' AM Ngày 16 tháng 12, RDSC và CARE đã ký các văn bản thoả thuận về thực hiện sáng kiến “Dự án Hỗ trợ phụ nữ nghèo dân tộc Dao thôn Bồ Xồ và Quất tổ chức câu lạc bộ sản xuất gà an toàn sinh học theo quy mô hàng hoá nhỏ định hướng thị trường”, một trong bốn giải thưởng của năm 2011 của Chương trình CASI III được chọn từ hơn 40 ứng viên của các tỉnh miền núi phía bắc. Trung tâm RDSC đã làm các thủ tục xin phê duyệt dự án với UBND tỉnh Phú Thọ từ ngày 30 tháng 12 sau khi hoàn tất các thủ tục mở tài khoản và ký kết các thoả thuận tài chính với CARE và cả ngân hàng. Bài đã đăng: RDSC Kon Tum tuyển dụng cán bộ khuyến nông và quản trị văn phòng 11/05/2007 01:06' PM Tại Kon Tum, RDSC KT đang thực hiện một chương trình hỗ trợ bà con dân tộc cải thiện an toàn lương thực bằng các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp bền vững. Trong đợt tuyển dụng này RDSC trân trọng mời các ứng viên cho vùng dự án của mình ở Kon Tum Để đọc hướng dẫn thủ tục tuyển dụng và nhận mẫu hồ sơ, ứng viên thực hiện lệnh tìm "tuyển dụng" và tải các mẫu đơn từ cần thiết để làm đơn.
HỘI THẢO BÁO CÁO KẾT QUẢ VÀ CHIA SẺ KINH NGHIỆM KHUYẾN NÔNG CÙNG RDSC PHÚ THỌ 30/03/2007 09:34' PM Ngày 24/03/07 tại Trung tâm Điều dưỡng Cán bộ Lão thành Cách mạng của thành phố Hà Nội xã Bảo Yên, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn đã phối hợp cùng với lãnh đạo các ban ngành chức năng của huyện Thanh Thuỷ tổ chức Hội thảo Báo cáo Kết quả Hoạt động của Dự án và Định hướng hoạt động trong giai đoạn 3 từ 2007-2010. Phân bổ mức độ phục vụ các cộng đồng dân tộc của RDSC Phú thọ 01/03/2007 10:52' PM Theo thống kê của Hội đồng Quản lý Chương trình Phát triển nông thôn và giảm nghèo Phú thọ, tính đến 28 tháng 2 năm 2007, RDSC PT đã phục vụ 87 cộng đồng trong số 106 thôn bản của 10 xã trong hai huyện Thanh Thuỷ và Thanh Sơn tỉnh Phú thọ. Trong 68 các thôn dân tộc Mường, RDSC PT đã đến với 54 thôn. Trong 7 thôn người Dao trong 5 xã huyện Thanh Sơn, RDSC PT đã đến với 3 thôn. RDSC PT đang có kế hoạch phục vụ tất cả các thôn dân tộc trong năm 2007. Kết quả chi tiết của diện phục vụ và mức độ phục vụ được nêu trong các Bảng sau... Tài liệu về Chương trình 135 Giai đoạn 2 (2006-2010) 26/11/2006 01:19' AM Chương trình 135 giai đoạn 2 là kế hoạch XĐGN 5 năm của chính phủ trong giai đoạn 2006-2010. Chương trình bao phủ 1644 xã nghèo trong 45 tỉnh, phần lớn thuộc các vùng dân tộc miền núi. Ngân sách của chương trình là khoảng 800 triệu USD với các hợp phần chính là cơ sở hạ tầng, sản xuất định hướng thị trường, nâng cao năng lực cho các cán bộ chính quyền các cấp. Uỷ Ban Dân tộc Miền núi là cơ quan chủ quản chương trình này. Đêm trung thu với trẻ thơ Bahnar ở Kon Tu K’Pâng 11/11/2006 12:27' AM Một hoạt động xã hội có thể mang lại một quan hệ gần gũi hơn với cộng đồng. Hoạt động này giúp chúng tôi hiểu thêm về sinh hoạt của bà con trong thôn bản và giúp chúng tôi định hướng cho việc hợp tác với cộng đồng...
|