QUỸ QUAY VÒNG NUÔI DÊ THÔN CÒN
Đặng Đình Thành, RDSC Phú Thọ
Ngày 23 tháng 6 năm 2006
Xã Thu Ngạc
Thu Ngạc là một xã nghèo 135 của huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ. Trụ sở của UBND xã cách thị trấn huyện 25km, nằm và cách Quốc lộ 32B 2km. Địa hình ở xã chủ yếu là đồi núi, ruộng trồng lúa và đất hoa mầu chủ yếu là những thửa ruộng bậc thang nằm xem kẽ ở các thung lũng và khe núi. Thu Ngạc nằm trên độ cao từ 400m-700m, nhưng cũng có chỗ cao đến 1200m so với mực nước biển. Nhiệt độ bình quân năm 23oC và độ ẩm bình quân 83%, lượng mưa bình quân năm từ 1200-1500mm. Nguồn nước của xã chủ yếu là những khe suối nhỏ chảy từ khe núi xuống. Bà con trong xã ở trong các ngôi nhà ven các dãy đồi núi thấp. Trong xã cũng có các đội sản xuất nguyên liệu giấy của Lâm trường Tam Sơn; họ trồng các cây nguyên liệu phủ trên các đồi núi cao. Xã đã có điện lưới và có thể liên lạc bằng điện thoaị tại điểm Bưu điện văn hoá xã.
Tổng diện tích của Thu Ngạc là 44,2km2, trong đó diện tích nông nghiệp là 266,71ha, đất lâm nghiệp chiếm 3.328,75ha, diện tích đất ao hồ là 8,8ha, đất thổ cư chiếm 33.0ha, còn lại là đất rừng phòng hộ. Dân số của xã là 5.318 người, trong đó nữ chiếm 2.672 người. Lao động chính trong xã gồm 1.780 người với số nữ chiếm 897 người. Tỷ lệ tăng dân số hàng năm của xã khá cao ở mức 1,6%
Trong huyện, Thu Ngạc có tỷ lệ người dân tộc cao nhất. Ngoài người Kinh, người Mường chiếm 98,4%. Bà con người Mường ở đây vẫn giữ được nét văn hoá dân tộc đặc sắc. Phụ nữ vẫn mặc trang phục truyền thống hàng ngày, và chị em vẫn trồng bông dệt vải may để may quần áo dân tộc chuẩn bị cho con gái lớn khi đi lấy chồng.
Thôn Còn I
Cách trung tâm xã 5km, để tới Thôn Còn I phải đi qua con đường khó đi len lỏi qua các núi cao xen kẽ với các thung lũng. Diện tích của thôn 993.38ha, trong đó đất thổ cư chiếm 13.62ha; đất sản xuất nông nghiệp chiếm 9.76ha, diện tích đất ao hồ 973m2. Dân số của thôn là 420 người, trong đó người dân tộc chiếm 394 người. Số lao động chính trong thôn là 152 người. Địa hình Thôn Còn I có nhiều đồi núi cao, ruộng nương ít, hộ khẩu lại đông, người lao động chính ít. Sô trẻ em trongt thôn có 130 em, trong đó có 100 em ở độ tuổi từ 7 đến 13 tuổi. Ở nhóm tuổi này trẻ em không giúp được việc đi lên nương và làm ruộng là những công việc nặng nhọc của người lớn. Nhưng các cháu vẫn làm những công việc nhẹ nhàng giúp gia đình như chăn gia súc, cắt cỏ, lấy lá làm thức ăn cho gia súc gia cầm được ngoài thời gian đi học.
So với tỷ lệ nghèo chung của xã Thu Ngạc hiện ở mức 35% tính theo chuẩn nghèo mới, Thôn Còn I có tỷ lệ người nghèo còn cao hơn và ở mức 45%. Thu nhập chính của bà con trong bản là làm nương rẫy và đi làm thuê cho Lâm trường Tam Sơn. Có nhà nhận trồng và chăm sóc cây và bảo vệ cây nguyên liệu cho Lâm trường.
Quỹ Nuôi Quay vòng nuôi Dê
Tháng 12 năm 2005, RDSC cùng với các hộ gia đình thôn Còn I đã họp lập kế hoạch phát triển thôn bản. Bà con trong thôn đã chọn những giải pháp ưu tiên nhằm tăng thu nhập cho cộng đồng. Quỹ quay vòng nuôi dê là một giải pháp được ưu tiên tại cuộc lập kế hoạch này. Giải pháp này được coi là có tính khả thi cao và khả năng nhân rộng trong thôn. Đặc biệt, hoạt động này có lợi với các hộ nghèo theo như câu tục ngữ của địa phương “giầu nuôi chó, khó nuôi dê, ngứa nghề thì nuôi ngỗng”.
Cuộc họp đã hình thành Ban quản lý thôn, và định hướng và tổ chức triển khai xây dựng qui chế và bình chọn các thành viên tham gia vay vòng đầu. Trong cuộc lập kế hoạch thôn bản này, giới nữ tham gia chiếm 2/3 trong số người tham dự. Đây là một nét mới trong các tính quyết định phát triển kinh tế trong thôn và trong gia đình. Trước đây, ít khi những người phụ nữ. là người chăm lo gia đình, và đồng ruộng cũng như trong chăn nuôi có tiếng nói ở các cuộc họp công cộng như vậy.
Tháng 5 năm 2005, Quỹ Quay vòng Nuôi dê được thành lập với tổng số thành viên tham gia là 15 hộ gia đình, trong đó có 12 hộ nghèo xét theo tiêu chuẩn cũ. Trong quá trình huy động và xây dựng Quỹ, Ban quản lý thôn đã thực hiện theo Nghị định Dân chủ cơ sở dân biết dân bàn dân làm dân kiểm tra. Khi triển khai, cán bộ RDSC đã cùng bàn bạc và định hướng với bà con trong thôn để phát huy nội lực của thôn, xem cộng đồng có thể chuẩn bị được những gì, lo đến đâu là hết khả năng, và khó khăn những việc gì. Cách triển khai như vậy đã khuyến khích các hộ nghèo mạnh dạn tham gia Quỹ để phát triển kinh tế dựa trên những nguồn lực sẵn có của gia đình của cộng đồng.
Nguồn vốn của Quỹ trong thời điểm ban đầu là do RDSC hỗ trợ 15 triệu đồng tính cho 15 hộ được dùng theo hình thức vay quay vòng với lãi suất ưu đãi đủ đảm bảo trượt giá. Món vay ban đầu này đảm bảo mỗi thành viên có thể mua được ít nhất 1 con dê mẹ để nhân giống. Với giá giống là 32 nghìn đồng/1kg, số dê ban đầu của quỹ mua được là 28 con dê cái sinh sản, với tổng trọng lượng là 480 kg. Mỗi hộ trong Quỹ đã mua được từ 2 đến 4 con dê giống với nguồn trừ Trung tâm Nghiên cứu Giống Dê Thỏ Ba vì.
Khi tham gia vào Quỹ quay vòng nuôi Dê, bà con trong tổ học tập lẫn nhau làm chuồng trại theo kiểu địa phương phù hợp với khả năng của mỗi hộ gia đình. Chuồng Dê được làm bằng các loại gỗ tạp trong vườn và tre nứa sẵn có của gia đình. Nguồn thức ăn của dê rất phong phú là các cây và cỏ ở các bãi thả Dê hiện là những đồi vườn của các hộ gia đình đang trồng các loại cây nguyên liệu do có độ dốc cao. Hầu hết các hộ đều cho con em trong nhóm tuổi từ 7-13 tuổi đi chăn dê trong thời gian ở nhà. Các gia đình cũng đã chú ý sao cho trẻ không bị ảnh hưởng về thời gian học tập, ngược lại tạo giáo dục cho trẻ về lao động. Nhiều cháu khi đi cắt cỏ hoặc đi chăn thả mang theo sách vở đi học và tranh thủ làm bài tập hoặc là đọc truyện và học hỏi lẫn nhau.
Các thành viên Quỹ quay vòng nuôi Dê mỗi tháng họp một lần để thảo luận về kiến thức và kỹ thuật nuôi dê, chia sẻ kinh nghiệm mà có người học được từ những nơi khác. Cùng bàn cách chăn nuôi dê cho thật hiệu quả.
Sau một năm, đàn dê của Quỹ đã tăng lên 60 con với trọng lượng đàn dê ước tính là 1.100kg. Với giá hiện nay là 28.000đồng/kg dê thịt, thì trong 12 tháng giá trị đàn dê của Quỹ Quay vòng nuôi dê đã tăng lên 31.200.000đồng. Nếu trừ số tiền gốc và lãi suất vay, phần tăng thu nhập của Quỹ nuôi dê là 16.000.000đồng.
Câu chuyện Hộ Nuôi Dê
Theo bác Phùng Nguyên Rống, Tổ trưởng Quỹ nuôi Dê và bác Phùng Văn Bốn thành viên của Quỹ, nuôi Dê trong thôn rất thuận lợi, có lãi và đầu tư không lớn lắm, nhất là khi trong thôn nhà nào cũng có vườn rừng, và bãi chăn thả Dê rất rộng. Theo bác Bốn“ Nhà tôi trước khi chưa tham gia vào quỹ nuôi Dê thì khó khăn lắm, đến con lợn cũng không có. Khi được vay của RDSC một triệu đồng, tôi mua được một con Dê mẹ 25kg đang có thai. Số tiền còn lại tôi mua một con lợn con để nuôi, bắt đầu từ tháng 5 năm 2005 cho đến tháng 01 năm 2006 tôi bán con lợn, đủ tiền để lo cái tết cho vợ con. Con Dê nhà tôi may mắn đẻ được hai con đều là cái cả. Đến nay đàn Dê nhà tôi có 5 con, nếu bán đi cũng được ba triệu đồng nếu trừ một triệu tiền vốn và tiền lãi thì cũng còn đến gần 2 triệu đồng”. Theo bác Rống, “nếu bán đàn dê nhà tôi đi cũng phải được bốn đến năm triệu đồng, và lãi cũng phải được 2-3 triệu đồng”.
Gia đình bác Bốn chỉ có 5 sào ruộng, trong đó có 3 sào thường xuyên không có nước. Năng suất lúa cao nhất trong 2 năm gần đây chỉ đạt 100 đến 120kg/sào, và cũng có những vụ chỉ đạt 30 đến 40kg/sào. Nếu trồng hoa mầu, hầu như gia đình không thu được bao nhiêu, do giống hoa mầu gia đình tự để giống hoặc mua trong thôn do nhiều năm đã thoái hoá và kém chất lượng. Ngoài ra, năng suất thấp cũng còn do mức đầu tư chăm sóc thấp. Gia đình nhà bác Bốn có tổng thu nhập từ trồng trọt đạt khoảng 3 triệu đồng/năm. Nếu chia cho 5 khẩu, gia đình nhà bác Bốn, nếu không đi làm thuê các vùng khác, thu nhập không đủ chi tiêu sinh hoạt trong gia đình.
Với các hộ nghèo khác trong thôn Còn I và các thôn lân cận khác, tình hình trồng trọt cũng gần như vậy. Mỗi hộ có vài sào ruộng, vài sào đồi rừng và nương dẫy, được canh tác mà thu nhập không cao. Do không có hệ thống thuỷ lợi tốt, ruộng thường thiếu nước nên năng suất thấp lúa năm nào được mùa thì đạt 100-150kg/sào, còn mất mùa thì chỉ đạt 30- 40kg/sào. Nguồn thu thêm từ nuôi dê đã giúp các hộ nghèo có thêm nguồn thu nhập bổ xung cho trồng trọt.
Quỹ Quay vòng nuôi Dê đến nay đã tới kỳ thu hồi vốn để quy vòng sang các hộ mới. Ban Quản lý Quỹ nuôi Dê và Ban phát triển và giảm nghèo xã đang triển khai lựa chọn hộ, và lập kế hoạch thực hiện mở rộng. Quy trình Quỹ quay vòng nuôi Dê ở thôn Còn I đã cho kết quả khả quan và nên được áp dụng rộng rãi trong các thôn và xã.
Áp dụng mở rộng Phương pháp Nuôi chia dê và Thỏ
Dựa trên bài học ở Thôn Còn, RDSC KT đã đề xuất thực hiện mở rộng tại Kon Tum từ tháng 6 năm 2006. Quy trình thực hiện Quỹ Nuôi chia dê và Thỏ như sau:
|
Hoạt động |
RDSC và Hội phụ nữ/hoặc đoàn thể khác |
Hộ nhận nuôi |
|
Chọn hộ thành viên Quỹ |
HPN: phát hiện các hội viên nhiệt tình, chăm chỉ, và có lao động chăn nuôi dê, thành lập nhóm nuôi dê
RDSC: thẩm định khả năng chăn nuôi |
Họp thôn bình chọn các hộ nuôi dê/thỏ
Các hộ được nhận cam kết tuân thủ quy chế nuôi chia
Thôn nuôi dê, thì không nuôi thỏ |
|
Dê giống |
RDSC: cho vay bằng hiện vật, với dê số con. Với thỏ: số con: 9 con cái 1 con đực. Mức đầu tư một thôn (xấp xỉ): dê 15 triệu, thỏ 10 triệu.
HPN xã: cùng đi mua con giống |
Hộ nuôi dê: 5, hộ nuôi thỏ 10
Đi mua dê (hoặc thỏ) giống hoặc cùng cán bộ RDSC đi chọn dê giống
Nhận nuôi dê hoặc thỏ giống |
|
Làm chuồng |
Hỗ trợ kỹ thuật viên hướng dẫn làm chuồng thỏ và dê |
Làm chuồng bằng nguyên liệu địa phương đúng kỹ thuật |
|
Thức ăn |
Cấp giống cỏ voi để làm giống cho diện tích 30m2
Hướng dẫn cách trồng cỏ, bón phân
Hướng dẫn các cho thỏ và dê ăn |
Làm đất, làm luống và trồng cỏ voi và tưới, bón phân và thu hoạch cho dê ăn. Chăn dê và cắt cỏ tự nhiên cho dê và thỏ ăn.
Cho ăn đúng kỹ thuật, hướng dẫn gia đình cho ăn đúng kỹ thuật |
|
Thú y |
Thực hiện tiêm chủng và khám chữa bệnh cho thỏ. Đào tạo thú y viên xã về bệnh thỏ và dê. |
Phát hiện kịp thời triệu chứng bệnh và báo cho cán bộ phụ trách của RDSC |
|
Tổ chức |
HPN: tổ chức họp hàng tháng phổ biến tình hình nuôi chia kinh nghiệm nuôi dê, tình hình phát triển đàn dê
HPN: theo dõi quỹ và báo cáo RDSC
RDSC: ghi chép để rút kinh nghiệm |
Tham gia họp, báo cáo tình hình sinh trưởng đàn dê, thỏ và cỏ trồng
Chia sẻ kinh nghiệm cho ăn, phát hiện bệnh, vệ sinh chuồng trại. Giúp đỡ lẫn nhau trong tổ nuôi dê, thỏ |
|
Chia dê con khi 6 tháng tuổi
Thỏ con: 3 tháng |
1. RDSC được 35%
2. Hội Phụ nữ: được hưởng 15% giá trị |
Tính theo giá trị quy tiền cuả dê /thỏ con: hộ nuôi hưởng 50% giá trị của đàn dê /thỏ |
|
Chia khi dê giống sau 5 tuổi, thỏ 3 năm tuổi |
1. RDSC được 35%
2. Hội Phụ nữ: được hưởng 15% giá trị |
Tính theo giá trị quy tiền cuả dê/thỏ giống: hộ gia đình hưởng 50% giá trị của dê thỏ giống đã nhận. |
|
Tiêu thụ |
RDSC và HPN mua lại và giúp tiêu thụ theo cơ chế thị trường |
Người nuôi tự tieu thụ hoặc bán lại cho RDSC theo giá thị trường tại địa phương. |
|
Mở rộng: |
1. Dùng vốn thu hồi Quay
2. Lập Quỹ nuôi heo nái, |
vòng sang các thôn mới trong xã
hoặc bò nái trong xã |
Nguồn:
RDSC PT Số lượt đọc:
216
-
Cập nhật lần cuối:
12/03/2009 08:28:58 AM Bài mới:
 Nuôi giun quế ở cộng đồng thôn Quất và Bồ Xồ 01/04/2012 03:44' PM Nuôi giun quế là một hoạt động bổ trợ để thúc đẩy chăn nuôi gà an toàn
sinh học cho các CLB chăn nuôi của chị em dân tộc Dao và Mường ở hai
thôn vùng cao Quất và Bồ Xồ (xã Yên Lương). Tuy được phổ biến rộng rãi
trên báo chí, trên thực tế, trong gần một nghìn hộ ở xã Yên Lương chỉ có
một hộ nuôi giun quế ở quy mô nhỏ, và một điểm nuôi giun trình diễn ở
Trạm thực nghiệm của Trung tâm RDSC. Cả hai điểm đều chưa đủ điều kiện
để cung cấp giun quế giống cho nhân dân trong xã. Hoạt động tổ chức cộng đồng của dự án CASI 3 tại Yên Lương03/03/2012 12:03' PM Trong tháng 2, Dự án CASI 3 Yên
Lương có những hoạt động về tổ chức cộng đồng ở cấp xã và thôn. Dự án đã tổ chức Ban Quản lý và cộng đồng đã hình thành hai CLB và lãnh đạo của CLB tại thôn Quất (phụ nữ Thổ và Mường) và Bồ Xồ (phụ nữ Dao). Các CLB đã đưa ra kế hoạch hoạt động chi tiết của dự án cho tháng 3/2012. Ngành an ninh làm việc với RDSC PT về dự án CASI 316/02/2012 02:50' AM Ngày 14 tháng 2 năm 2012, cán bộ công an của ba cấp, xã Yên Lương, huyện
Thanh Sơn và tỉnh Phú Thọ đã tới thăm và làm việc với Văn phòng RDSC
Phú Thọ. Tiến độ phê duyệt dự án CLB chăn nuôi tổng hợp gia cầm sạch của phụ nữ tại Yên Lương12/02/2012 03:49' PM Chiều ngày 7 tháng 2 năm 2012, nhóm cán bộ RDSC Phú Thọ và lãnh đạo xã
Yên Lương đã có cuộc họp trao đổi về tiến độ phê duyệt dự án “Hỗ trợ phụ
nữ nghèo dân tộc Dao thôn Bồ Xồ tổ chức câu lạc bộ (CLB) sản xuất gà an
toàn sinh học theo quy mô hàng hoá nhỏ định hướng thị trường”. Về phía
xã có bí thư đảng uỷ xã, đại diện UBND, Hội phụ nữ và đoàn thanh niên.
Đây là cuộc gặp thứ ba giữa hai bên, kể từ cuộc họp giới thiệu ý tưởng
dự án do RDSC thực hiện trong năm 2011. RDSC và CARE thoả thuận về thực hiện “Dự án hỗ trợ phụ nữ nghèo dân tộc Dao20/01/2012 12:19' AM Ngày 16 tháng 12, RDSC và CARE đã ký các văn bản thoả thuận về thực hiện sáng kiến “Dự án Hỗ trợ phụ nữ nghèo dân tộc Dao thôn Bồ Xồ và Quất tổ chức câu lạc bộ sản xuất gà an toàn sinh học theo quy mô hàng hoá nhỏ định hướng thị trường”, một trong bốn giải thưởng của năm 2011 của Chương trình CASI III được chọn từ hơn 40 ứng viên của các tỉnh miền núi phía bắc. Trung tâm RDSC đã làm các thủ tục xin phê duyệt dự án với UBND tỉnh Phú Thọ từ ngày 30 tháng 12 sau khi hoàn tất các thủ tục mở tài khoản và ký kết các thoả thuận tài chính với CARE và cả ngân hàng. Bài đã đăng: Tác động của Tổ Thú y Cộng đồng tới ngành chăn nuôi xã Tu Vũ 09/07/2006 08:44' AM Trong sáu tổ thú y được RDSC hỗ trợ thành lập tại Phú Thọ, tổ thú y cộng đồng xã Tu Vũ đã có tác động rõ rệt nhất sau 3 năm hoạt động. Các tổ thú y khác tuy mới thành lập nhưng cũng đã thể hiện triển vọng có những tác động tương tự như ở Tu Vũ. Tổ thú y Tu Vũ đã thể hiện tác động tích cực đến tình hình ngành chăn nuôi của xã, và kinh tế hộ gia đình các hộ nông dân trong xã và bản thân tổ viên của tổ thú y. Muời năm hoạt động của Quỹ Tín dụng Phụ nữ xã Yến Mao 18/06/2006 02:23' AM BBT. 18/06/2006
Cùng với kinh nghiệm và sự hỗ trợ kỹ thuật từ Quỹ tín dụng Phụ nữ (QTD) Phượng Mao (thành lập năm 1995), RDSC đã cùng Hội phụ nữ xã phối hợp thành lập QTD Yến Mao từ năm 1997 nhằm đáp ứng nhu cầu tín dụng của phụ nữ nghèo. Sau gần 10 năm hoạt động, Quỹ tín dụng phụ nữ xã Yến Mao đã trở thành một tổ chức tín dụng bền vững nhất trong các Quỹ tín dụng do RDSC hỗ trợ tại ba huyện của hai tỉnh Phú Thọ và Quảng Bình. Báo cáo này nhằm đánh giá sơ bộ về kết quả hoạt động của QTD và chia sẻ một số kinh nghiệm trong quá trình tổ chức hoạt động của QTD xã Yến Mao. RDSC KT Kết thúc Tham gia Dự án Hỗ trợ Dân bản Quản lý Rừng Bền vững ở Kon Tum 27/05/2006 10:04' PM RDSC KT, 27/05/06.
Do những điều kiện khác nhau, từ ngày 1 tháng 5 năm 2006, Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn Chi nhánh Kon Tum đã ngừng tham gia thực hiện Dự án Hỗ trợ Dân bản Quản lý Rừng Bền vững cùng chính quyền và nhân dân xã các xã P’Ê, Đắk P’Ne, Đăk Kôi, Hiếu, và Ngọc Tem. Việc tiếp tục thực hiện Dự án sẽ do các đơn vị khác trong tỉnh đảm nhiệm dưới sự chỉ đạo của ngành lâm nghiệp tỉnh. Chương trình tới đây của RDSC tại Kon Tum là xây dựng một dự án nghiên cứu trong ba năm 2005-2008. Đề tài nghiên cứu cấp cơ sở này có mục tiêu chung là xây dựng nguồn lực kỹ thuật phát triển nông thôn ở cơ sở tại một trong những xã được lựa chọn trong tỉnh. Tổng kinh phí dự kiến của đề tài trong ba năm trị giá gần một tỷ đồng do RDSC đầu tư cùng với một nguồn đầu tư phối hợp khác.
Tiến trình xây dựng Quỹ tín dụng phụ nữ 04/05/2006 01:26' AM Các dự án tín dụng vi mô do RDSC xây dựng thường là nòng cốt trong các chương trình phát triển cộng đồng. Các cuộc đánh giá chỉ ra nhiều nguyên nhân dẫn tới kết quả này, trong đó các lý do kinh tế khi người nông dân nghèo chưa được đáp ứng nhu cầu về tín dụng và tiết kiệm vi mô cho sản xuất. Một điều không kém quan trọng là nhu cầu liên kết giữa những người nông dân, nhất là phụ nữ, khi tham gia các chương trình tín dụng. Một điều khác là khả năng của các dự án tín dụng liên kết người nông dân với với các nguồn lực khác như khuyến nông, hay các nguồn tài chính chính thức. Từ 1996, chương trình tín dụng của RDSC được thực hiện tại xã Phượng Mao huyện Thanh Thuỷ, hiện tại các chương trình này được áp dụng nhân rộng tại huyện Thanh Thuỷ, Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ, huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình. Nhiều tổ chức đã tới tham quan và học tập để thực hiện tại địa phương mình. DNQ, 12/05/06 Một bước cải thiện tiếp cận của người Vân Kiều với dịch vụ khuyến nông tại xã Trường Sơn28/04/2006 01:54' AM Hà Thu Hường, RDSC. 28/04/2006.
Xây dựng mạng lưới khuyến nông thôn bản với các thành viên là những người nông dân nòng cốt, có khả năng truyền đạt các kiến thức và kỹ năng cho cộng đồng Vân Kiều bằng chính tiếng Vân Kiều là một công việc rất khó khăn, mà RDPR và UBND xã Trường Sơn đã vượt qua... |