RDSCVN
Đang tải dữ liệu...

Giới thiệu RDSC    |    Tin tức sự kiện    |    Diễn đàn    |    IDMA    |    Video    |    Âm thanh    |    Gallery    |    Slide show

Trưng cầu ý kiến
Dành cho các anh/chị kế toán.
Trong thực tế, Anh/chị dùng phần mềm kế toán chuyên dụng chủ yếu để làm việc gì? Không chọn quá 3 phương án.
 
Hỗ trợ trực tuyến
Các dự án phát triển

Hợp tác với người nghèo ở thôn Mít để tiếp cận hiệu quả hơn với chính sách

DNQ

Hợp tác với người nghèo ở thôn Mít để tiếp cận hiệu quả hơn với chính sách

Đặng Ngọc Quang

Ngày 1-8-2008

Chúng tôi tới Tân Lập, một xã dân tộc và miền núi của huyện Thanh Sơn tỉnh Phú thọ, trong một ngày mưa. Từ thị trấn Thanh Sơn có thể đi theo quốc lộ đi Hòa Bình trải bê tông tới ngã ba Hương Cần bằng xe máy khoảng một tiếng và rẽ tay phải theo một con lộ liên xã, đang được xây dựng theo dự án đưa đường ô tô tới các xã đặc biệt khó khăn. Con đường đang làm dở dang trải đầy đá cục, nhiều khúc ngập bùn trơn. Chiếc xe Dream Honda với lốp sau quá mòn không bám đường, và bạn đường của tôi khi đó lội bộ với túi xách có áo mưa và sổ sách. Sau khoảng 5 km thì thấy trụ sở UBND xã, một khuôn viên với trung tâm là một tòa nhà hai tầng đứng trông sang một nhà sàn truyền thống của người Mường. Khu nhà của Ủy ban tọa lạc giữa um tùm cây xanh trong một thung lũng bao giữa các dãy núi đá xen đồi đất đỏ.

Trong giai đoạn 2004-2007, Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn, RDSC, đã cùng cộng đồng xây dựng một Quỹ tín dụng để cấp vốn phụ nữ nghèo, đào tạo một hệ thống thú y thôn bản, và thực hiện quỹ quay vòng công trình vệ sinh trong hai thôn, và tổ chức quỹ nuôi dê trong một thôn. Từ tháng 10 năm 2008, RDSC tập trung hoạt động ở hai thôn là Mít Một và Mít Hai, và trong mỗi thôn lại tập trung hỗ trợ các hộ nghèo tiếp cận tốt hơn với những hỗ trợ giảm nghèo của nhà nước bằng hoạt động truyền thông chính sách, và sử dụng hiệu quả hơn các hỗ trợ đó thông qua việc nâng cao năng lực kỹ thuật nông nghiệp. Chương trình ở Tân Lập do kỹ sư nông nghiệp Nguyễn Thị Huế đảm trách.

Theo kế hoạch, chúng tôi có một buổi thảo luận vào sáng ngày 1-8-2008 với lãnh đạo thôn về các hoạt động đã thực hiện trong vụ mùa của RDSC tại thôn Mít 1, và kế họach tới. Trong hai ngày hôm trước, khuyến nông viên của xã, ông trưởng thôn và cán bộ truyền thông văn hóa xã[1] đã vừa tham gia tập huấn về kỹ năng truyền thông để thay đổi hành vi do RDSC tổ chức ở thị trấn để tổ chức các buôi truyền thông về chính sách và pháp luật trong nửa cuối của năm.

Tiếp chúng tôi khi ghé vào chào hỏi trong văn phòng của chủ tịch UBND xã, ông Dương Xuân Qu‎‎y nhận xét: “tuy số vốn và quy mô nhỏ, chương trình của RDSC đã đến tận những người nghèo nhất, và có hiệu quả trong việc nâng cao năng lực cho người nghèo”. UBND xã Tân Lập rất hoan nghênh chương trình của RDSC. Hiện tại, trong số 9 thôn của xã, có 8 thôn là dân tộc Mường. Chỉ còn hai thôn của xã là Xóm Hạ Thành (thôn người Dao), và Xóm Chủng thôn người Mường thuộc diện 135.

Cộng đồng Thôn Mít 1

Khi tới thôn Mít, chỉ cách trụ sở UNND khoảng 300m, trong một cuộc thảo luận tại nhà ông trưởng thôn[2], chúng tôi được biết thôn Mít hiện có 87 hộ, hầu hết là người dân tộc Mường. Trong số này, có 10 hộ phi nông nghiệp; họ là gia đình công nhân lâm trường cư trú và đã nhập hộ khẩu về thôn. Các hộ này không có đồi, không ruộng và sống bằng phi nông nghiệp, như buôn bán. Hầu hết các hộ này là người Kinh, chỉ có 1 hộ Mường, và tất cả đều hộ khá.

Trong thôn, số hộ nghèo trong thôn năm 2008 có 43 hộ nghèo, so với năm 2007 là 47, và năm 2006 có 52 hộ nghèo. Năm 2007 và 2006 mỗi năm có một hộ tái nghèo; cả hai hộ đều là phụ nữ đơn thân, và gia đình tái nghèo sau khi chồng chết. Như vậy, tỷ lệ hộ nghèo chung trong thôn năm 2008 là 49%, còn tính riêng cho các hộ nông nghiệp thì tỷ lệ này là 56%. Trong thôn, tuy có nhiều hộ nghèo, nhưng tất cả mọi người ai cũng biết đọc viết.

Ban Lãnh đạo thôn cho biết, thu nhập chính của nông dân trong thôn là từ trồng lúa, sắn, thu nhập lâm sản ngoài gỗ, chăn nuôi và làm thuê.

Cây lúa là nguồn thu quan trọng nhất của người dân và được trồng chủ yếu chỉ để ăn chứ không phải để bán cho thị trường. Với các hộ nghèo, thu nhập từ trồng lúa cũng không đủ để ăn trong gia đình. Nguyên nhân chính là người dân trong thôn thiếu đất. Diện tích đất trồng lúa bình quân trong chỉ đạt 13 thước /khẩu hay là chỉ có 312 m2 tính vào thời điểm chia ruộng năm 1993. Hiện nay con số này còn ít hơn do số nhân khẩu tăng từ thời đó tới nay.

Bình thường, trên đồng đất của thôn, nông dân chỉ đạt năng suất 150 kg lúa cho sào. Hộ nào giỏi thì có thể thu được 180 kg/sào, còn các hộ nghèo chỉ đạt 100-120 kg do mức đầu tư thấp hơn. Vụ Chiêm năm nay, do trên đồng của một số hộ không có nước, nên họ không có thu. Hai cánh đồng của thôn phải phụ thuộc nước trời là cánh đồng Đồng Mít (có 12 hộ làm trên cánh đồng 4 mẫu), và cánh đồng Đồng Chỏi (diện tích 1,7 Mẫu, có 7 hộ). Cả hai cánh đồng đều cách xa nguồn (khoản 2km) từ Suối Sài.

Nguồn thu quan trọng thứ hai của người dân trong thôn là từ trồng sắn trên đồi. Cây sắn cho sản phẩm để bán và để chăn nuôi. Nhiều hộ trồng đã lâu, nhưng không đầu tư chăm bón, và bảo vệ chống xói mòn, nên năng suất ngày càng thấp. Ngoài ra, khoảng một phần ba số hộ trong thôn không có đất trồng sắn có họ không nhận đất do thiếu lao động 1/3 số hộ trong thôn không có đất trồng sắn.

Một nguồn thu nhập khác của các hộ nghèo là từ lâm sản phẩm ngoài gỗ, cụ thể là măng và chít. Do trong xã chỉ có rừng keo và bạch đàn tái sinh, người dân khai thác lâm sản ngoài gỗ ở những cánh rừng phòng hộ cho lưu vực sông Bứa, sông Vàng nằm trên đất của xã láng giềng là Khả Cửu với quãng đường đi bộ khoảng hai tiếng.

Chăn nuôi là một ngành quan trọng trong thôn với hai vật nuôi cơ bản là lợn và trâu bò. Hiện tại cả thôn chỉ có 20 hộ nuôi được lợn do giá lợn giống hiện tại quá cao; còn lại các hộ đều để trống chuồng. Trong Thôn Mít 1 chỉ có 3 lợn nái, đó là hộ nhà Quang Anh và hộ ông An, mỗi nhà có 1 con Móng Cái và hộ nhà ông Quảng có một con nái lai. Do đàn lợn nái ít, dịch vụ thụ tinh nhân tạo không có ở trong thôn, mà các hộ này lấy giống trực tiếp từ lợn đực thuê của thôn ngoài. Còn về trâu bò, trong số các hộ nông nghiệp (có hai hộ tạm trú), có nhà 5-7 con, có 14 nhà không có trâu bò.

Người dân nghèo thường thiếu ăn vào tháng 3 và 8. Để đắp đổi lúc thiếu ăn vào tháng 8 , bà con đi kiếm măng và chít. Còn ứng phó với việc thiếu ăn vào tháng 3 thì khó hơn do không có nguồn thu nhập nào từ rừng và ruộng. Vào vụ đói tháng 3 thì bà con thường đi làm thuê. Các nghề làm thuê thường là làm thợ xây và làm cỏ sắn.

Do công ăn việc làm trong thôn có quá ít, để có thu nhập, một số đáng kể thanh niên, cả nam và nữ, trong thôn thường đi làm ăn xa. Hiện tại, số thanh niên đi làm ăn xa thường xuyên mà các vị lãnh đạo thôn đếm được là 26 người, trong đó có 21 người làm ở gần, tức là Hà nội hay Hà Tây. Trong số 22 người làm gần có 10 nữ thanh niên, phần lớn là từ các gia đình nghèo. Họ thường báo là đi bán hàng, rửa bát, hoặc là làm ô-sin. Còn phái nam đi làm thợ xây là chủ yếu. Đám thanh niên này đi hầu như quanh năm, và chỉ đến tết mới về vài ngày rồi lại đi. Trong nhóm 5 người đi làm ăn xa có 1 người làm ở Malaysia, theo như lãnh đạo thôn được biết thì hiện không có tiền để về nước. Còn 4 người đi làm ở các tỉnh phía nam.

Trong thôn Mít 1, hình thức tương trợ lẫn nhau kiểu phường họ khá phổ biến. Các phường hoạt động như một phương thức tiết kiệm và phục vụ cho mục đích chi tiêu lớn của gia đình (thường là phường lúa), và xây dựng cơ sở nhà cửa của gia đình (phường xi măng hoặc gạch ngói). Hiện tại trong thôn có phường lúa với 10 hộ thành viên, một phường xi măng (mức góp mỗi người 1 tạ xi măng), và một phường ngói (mức góp của mỗi hộ là 300 viên). Với phường xi măng và phường ngói, các thành viên đóng tiền ngang giá các vật tư xây dựng theo giá thị trường. Theo trưởng thôn, mức góp như vậy chỉ phù hợp với các hộ trung bình và hộ khá. Thường các hộ nghèo không tham gia được các phường họ do thiếu tài sản hoặc lương thực.

Hỗ trợ hộ nghèo sử dụng hiệu quả lúa trợ giá

Từ đầu vụ mùa tới đây, các hộ nghèo đã trồng Giống 838 của Trung Quốc (105 ngày) được trợ giá. Trong khi giá thị trường là 24.700đ/kg, với mức trợ giá 10.000 đ/kg, bà con chỉ phải trả 14.7000 đ/kg. Có một số hộ nghèo không mua vì không có tiền ứng tuy trưởng thôn có báo trước nửa tháng. Một số hộ không mua giống trợ giá, do đồng đất của gia đình chỉ phù hợp với giống “Bồi Tập - Xuân Thanh”, và Việt Nam 20 (do công ty giống Yên Bái cung cấp). Do thời gian sinh trưởng ngắn của hai giống này ngắn hơn chừng 10 ngày, sau khi thu hoạch lúa bà con có thể làm thêm được một vụ ngô đông.

Chị Huế đã tập hợp được 20 đại diện của 20 hộ nghèo trong xã trong một nhóm sở thích. Chị đã hướng dẫn kỹ thuật trồng và chăm sóc lúa theo chu kỳ tăng phát triển cây lúa cho các chị em quan tâm và theo dõi để người dân áp dụng. Ông trưởng thôn nói: “Trước đây, chị em nông dân vẫn trộn đạm và kali và bón lẫn cho lúa. Bữa nay, theo hướng dẫn của kỹ thuật viên, bà con đã bón riêng từng loại phân riêng biệt cho hiệu quả”. Ông khẳng định là nông dân tuy trồng lúa nhiều năm, nhưng cũng không phân định được rõ ràng các chu k‎ỳ tăng trưởng của cây lúa, và chăm bón, nhất là bón phân, cho hợp ly. Một phần cũng là do , khuyến nông xã trước đây chưa có bằng cấp, và chưa hướng dẫn nhân dân cho đúng. Hiện giờ điều này đã được cải thiện. Trong số 42 hộ nghèo tham dự tọa đàm về kỹ thuật trồng lúa, đã có 32 hộ nghèo đã nhận tài liệu.

Trong đợt bón lót, mức phân bón là lót 20kg NPK /sào. Tất cả 20 hộ nghèo trong nhóm sở thích đã được RDSC tạm ứng vốn để bón cho đúng công thức và thời vụ. Theo quy ước, các hộ đều dùng 200-300 kg phân chuồng để bón lót bổ xung. Có 2 hộ của bà Sa Thị Thanh và Đinh Văn Lâm so mới mua trâu còn bé và do không có lợn nên đã đi xin phân chuồng để bón ruộng.

Trong đợt bón thúc, tất cả 20 hộ nghèo đã được hỗ trợ theo định mức cho một sào là 3,5Kg đạm u-rê, 1,5 Kg Kali. Các hộ cũng đã bón hộ đủ phân theo đúng định mức và đúng thời vụ.

Khi thảo luận về kỹ thuật ủ phân chuồng, hiện tại, lãnh đạo thôn và khuyến nông viên xã cho biết, các hộ gia đình trong thôn mới có hố chứa phân, và phân chuồng chưa được ủ đúng kỹ thuật. Phân xanh cũng không được ủ phối hợp với phân chuồng. Nhiều hộ không có hố phân cho gia súc, hoặc có hố cũng không có nắp đậy để ủ

Hiện tại, lúa trên đồng đang vào thời con gái. Theo ông trưởng thôn, hiện tại chưa kết luận được cây lúa của 20 hộ nghèo làm theo mô hình có vượt trội không so với các hộ khác do đang có sâu bệnh đang đại trà. Quan sát của khuyến nông viên và xúc tác viên cho thấy trên cánh đồng đã có sâu đục thân, và sâu đã ở giai đoạn ăn vào thân cây lúa, nếu có phun thuốc cũng không hiệu quả. Tuy nhiên mật độ sâu đục thân còn thấp chưa phải sử l‎y. Trên đồng còn có sâu cuốn lá với mật độ thấp) và bạc lá do rầy hút nhựa từ lá lúa). Mật độ rầy hiện còn chưa được cán bộ kỹ thuật xác định.

Xúc tác viên của RDSC và khuyến nông xã đã thống nhất tổ chức khảo sát và đánh giá tình hình sâu bệnh trên cây. Cũng trong tháng 8 năm 2008, các cán bộ kỹ thuật có kế hoạch khảo sát và phát hiện cây có khả năng trừ sâu ở địa phương và thử nghiệm và đối chứng phương pháp phòng trừ sâu bệnh không dùng thuốc hóa học.

Các hộ nghèo có thêm đủ lương thực để sản xuất

Do các hộ nghèo phải lo kiếm lương thực hàng ngày bằng cách vào rừng lấy măng và cỏ chít đểlàm chổi bán, hoặc phải đi làm thuê, như làm cỏ sắn, RDSC đã tổ chức Quỹ quay vòng lương thực để giúp các hộ nghèo có thêm lương thực để tự chủ thời gian để chăm chăm sóc ruộng nương.

Trong tháng bảy vừa rồi, mỗi hộ trong Nhóm Sở thích đã góp 50 kg thóc với các loại giống gia đình trồng như Nhị Ưu, Q5, và Khang dân. Tổng số thóc các gia đình góp được là 1000 kg. Cùng với đại biểu cộng đồng, RDSC đã hỗ trợ nhóm đủ kinh phí mua 1 tấn để đối ứng. Bà con đã sang mua thóc ở nhà ông Chà trong xóm Chủng. Ông là thành viên của một phường lúa gồm 15 hộ khá, và ông mới nhận phường. Bà con mua lại lúa với giá tại chỗ 5 800 đ/kg; cộng với chi phí chuyên chở về tới thôn Mít thì giá lúa là 6100đ/kg. Mọi người đều nói giống lúa ở phường đó là Khang dân, và do là lúa phường góp nên hạt thóc đều chắc hạt, khô, mẩy, hay là “sáng quả” dùng theo từ địa phương. Sau khi nhận lúa về và sau khi góp phường, các thành viên trong nhóm đã quyết định bốc thăm để xác định bốn người[3] được lấy phường trước. Một công việc tiếp theo của xúc tác viên là theo dõi việc sử dụng lương thực của các hộ đã được bốc thăm, và phân bổ thời gian lao động và nơi lao động của các gia đình để kiểm tra gia thuyết ban đầu của RDSC.

Hợp tác với cộng đồng trong cuối năm 2008

Tuy bước đầu hỗ trợ mới 20 gia đình nghèo trong thôn, cả RDSC và lãnh đạo thôn xác định là mục tiêu của sự hợp tác là hỗ trợ cho tất cả các hộ nghèo vượt khó, và chương trình cần tạo cơ hội tham gia cho tất cả các hộ nghèo trong thôn.

Phát triển nông nghiệp

Vụ lúa mùa của 20 hộ nghèo vẫn được tiếp tục theo dõi về sâu bệnh và chăm bón. Đặc biệt cán bộ của RDSC và khuyến nông thôn và xã sẽ nghiên cứu áp dụng các biện pháp quản l‎ý sâu bệnh không dùng thuốc hóa học.

Khuyến nông viên của xã cũng đề nghị RDSC phối hợp xây dựng một vùng sản xuất lúa giống (Khang Dân) tại thôn Mít 2 nơi có đồng Đống với diện tích khoảng 1 Ha phù hợp để làm giống về chất đất, vị trí và thủy lợi. Mô hình sản xuất giống tại chỗ đã được cán bộ của xã Tân lập tham quan ở xã Yên Mao. Các cán bộ kỹ thuật có thể là tổ sản xuất lúa giống Yên Mao.

Nhìn nhận khả năng phát triển đàn lợn ở thôn, RDSC sẽ xem xét cùng lãnh đạo thôn việc việc hình thành một trại nuôi lợn nái lồng ghép với cơ sở trồng cây thức ăn gia sức với quy mô nhỏ trong giai đoạn ban đầu đủ cung cấp giống cho cộng đồng cùng với số nái hiện có. Địa điểm sẽ do thôn thu xếp trên 360m2 đất của thôn và khoảng 700m2 thuê hoặc mượn lại của các hộ gia đình trong thôn.

Trong thời gian tới, chị Huế và thú y, và khuyến nông viên xã sẽ tổ chức hướng dẫn bà con nông dân trong cả cộng đồng về kỹ thuật chế biến thức ăn cho trâu bò, và chăm sóc cho trâu bò. Hai bên sẽ khuyến khích nhân dân trồng cây thức ăn gia súc.

Các buổi sinh hoạt khuyến nông sẽ thực hiện theo các phương pháp truyền thông mới được tập huấn, và thực hiện lồng ghép với các buổi sinh hoạt thôn hàng tháng. Các tài liệu truyền thông xây dựng và thực hiện ở hai thôn Mít sẽ dùng chung cho tất cả chín thôn của cả xã.

Công trình vệ sinh
Theo kế hoạch, chị Huế sẽ phối hợp với lãnh đạo thôn và y tế thôn (anh Sa Minh Tuân) để mở rộng chương trình phát triển các công trình vệ sinh trong thôn với các hộ nghèo. Hiện tại, theo lãnh đạo thôn, trong cộng đồng có 6 gia đình nhà vệ sinh đúng chuẩn. Các gia đình khác không có nhà vệ sinh hợp quy cách.

Trong giai đoạn trước, RDSC đã phân bổ cho thôn một khoản quỹ 5 triệu đồng để xây dựng công trình vệ sinh quay vòng, nhưng do Hội Phụ nữ xã quản l‎y chung với Quỹ tín dụng. Hiện tại, cả lãnh đạo thôn và xúc tác viên chưa tìm hiểu hoạt động của nguồn vốn này và tác động tới cộng đồng. Nội dung công việc này được bổ xung trong tháng 8.

Cuộc thảo luận với lãnh đạo thôn, cho thấy có hai khả năng thực hiện Quỹ công trình vệ sinh. Một khả năng là lồng ghép với Quỹ tín dụng như trước đây; và thứ hai là tổ chức phường ngói và xi măng để làm công trình vệ sinh với khoản đối ứng của RDSC để giúp hộ nghèo có nhà vệ sinh, bể nước và chuồng trại. Tính lồng ghéo của hoạt động này thể hiện ở các nhà vệ sinh và chuồng trại sẽ giúp hộ gia đình có thêm nguồn phân chuồng và phân bắc để bổ xung cho ruộng. Mẫu nhà vệ sinh đơn giản và bảo đảm vệ sinh đã được RDSC thu thập qua các chuyến tham quan trong nước và quốc tế nên mức đầu tư sẽ là cơ bản và chi phí tối thiểu cho nguyên vật liệu phải mua để nhiều gia đình hưởng lợi.

Lớp vi tính cho cán bộ xã

RDSC đã thống nhất tổ chức một lớp vi tính cơ bản cho cán bộ xã trong thời gian hai ngày vào ngày nghỉ cuối tuần. RDSC sẽ cung cấp tập huấn viên, thiết bị giảng dạy mô phỏng, và hai bộ tài liệu tham khảo cho thư viện của xã. Xã sẽ cung cấp địa điểm và chi phí cho học viên.

Truyền thông chính sách và hình thành kênh phản hồi chính sách

Trong bốn tháng còn lại cuối năm, RDSC và các ngành trong xã sẽ thực hiện truyền thông tới các hộ nghèo về các quyền lợi của người nghèo về nông nghiệp, chăm sóc sức khỏe, y tế, giáo dục mà được chính sách giảm nghèo của nhà nước đảm bảo. Các cách tiếp cận và cách hưởng thụ các quyền lợi cũng là một nội dung quan trọng của tọa đàm.

Một nội dung của chương trình truyền thông qua các cuộc tọa đàm, bảng tin, và truyền thanh thôn bản về các quyền của phụ nữ và công dân do pháp luật đảm bảo như Pháp lệnh dân chủ cơ sở, luật bình đẳng giới. Các tài liệu truyền thông ở thôn Mít 1 sẽ được dùng chung cho tất cả các thôn khác.

Khi thảo luận với lãnh đạo xã, RDSC cũng thống nhất về việc cùng tổ chức một cuộc thi truyền thông về chính sách giảm nghèo và pháp luật bằng các hình thức văn nghệ trong 9 thôn, với thôn chủ trì là thôn Trầm. Cuộc liên hoan dự kiến tổ chức vào ngày hội mùa truyền thống của bà con dân tộc trong tháng 10. Ban tổ chức dự kiến sẽ có sự tham gia của Phòng Văn hóa huyện, UBND xã và RDSC. Cả hai bên cùng hy vọng sẽ phát hiện được các hạt nhân văn nghệ để tham gia cuộc giao lưu về truyền thông liên tỉnh dự kiến vào tháng 12 năm 2008/.



[1] Cô Ngọc Thị Luận là cán bộ văn hóa xã.

[2] Tham gia thảo luận nhóm có ông trưởng thôn Đỗ Hữu Cầu, ông Bí thư thôn Ngọc Quang Thức, ông khuyến nông viên của xã Phùng văn Phi, và cán bộ xúc tác viên phát triển cộng đồng của RDSC, kỹ sư nông nghiệp Nguyễn Thị Huế.

[3] Đó là bốn gia đình của các ông Đỗ Hữu Nam, Đinh Văn Năng, Ngọc Văn Nghiệp, và Ngọc Văn Minh

Số lượt đọc:  86  -  Cập nhật lần cuối:  12/03/2009 08:35:04 AM
Bài mới:  
Bài đã đăng:
Các bài được đọc nhiều nhất
23/11/2009 12:49' PM
Tham quan trại nuôi gà và nuôi giun tại xã Xuân Lũng
14/09/2009 03:52' PM
Kỹ thuật chăn nuôi thỏ quy mô hộ gia đình tại Phú Thọ
26/11/2006 01:19' AM
Tài liệu về Chương trình 135 Giai đoạn 2 (2006-2010)
08/04/2009 05:33' AM
Vai trò giới trong phân công lao động gia đình ở Việt Nam qua những biến động xã hội
16/07/2006 09:01' AM
Kỹ thuật Trồng và Chăm sóc Tre Bát độ để lấy Măng
24/06/2006 08:54' AM
Viết Thu hoạch sau Cuộc Tham quan Học tập
14/09/2009 10:06' PM
Kỹ thuật trồng nấm mèo
15/06/2010 08:40' PM
Mẹo sử dụng và cài đặt font tiếng Việt cho SPSS 15 và 16
11/03/2009 05:51' AM
Chia sẻ kỹ thuật chăm sóc heo nái khi sanh sản và hậu sanh sản
21/02/2008 09:24' AM
Hướng dẫn lập và sử dụng trang web qua My.opera.com
Đăng ký nhận tin thư
Họ và tên:
Email:
Tổng số lượt truy cập: 5.776.188
Số người trực tuyến: 29

©2004 Bản quyền Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn - RDSC
Số 2 nhà D, 45/39 Hào Nam, Đống Đa, Hà Nội,Việt Nam
Email: rdsc@netnam.vn - Phone: +84-4-3-512 1175 - Fax: +84-4-3-512 1175
Website được xây dựng trên Công nghệ ViePortal của Hanoi Software JSC