RDSCVN
Đang tải dữ liệu...

Giới thiệu RDSC    |    Tin tức sự kiện    |    Diễn đàn    |    IDMA    |    Video    |    Âm thanh    |    Gallery    |    Slide show

Trưng cầu ý kiến
Dành cho các anh/chị kế toán.
Trong thực tế, Anh/chị dùng phần mềm kế toán chuyên dụng chủ yếu để làm việc gì? Không chọn quá 3 phương án.
 
Hỗ trợ trực tuyến
Các dự án phát triển

Cộng đồng Thôn Tân Lập xã Thu Cúc hợp tác với RDSC trong năm 2009

Chương trình Hợp tác giữa

Cộng đồng Thôn Tân Lập xã Thu Cúc và RDSC năm 2009

Dang Ngoc Quang

Đặt vấn đề

Ngày 5 tháng 3 năm 2009, lãnh đạo Ban Quản lý Dự án Tăng cường Sự tham gia của nhân dân trong phát triển kinh tế xã hội Phú Thọ đã có cuộc gặp với lãnh đạo thôn Tân Lập xã Thu Cúc. Lãnh đạp thôn đã giới thiệu về thôn và hai bên đã thảo luận khả năng hợp tác trong những tháng cuối của dự án trong năm 2009.

Trong giai đoạn một của Dự án, của Trung tâm đã hỗ trợ thôn một hệ thống loa đài truyền thông, thực hiện quỹ nuôi bò trong thôn. Năm 2008, Quỹ tín dụng phụ nữ xã do HPN thôn quản lý đã triển khai Quỹ tín dụng phụ nữ trong thôn đã có 66 hội viên. Trong ba tháng qua, thôn cũng đã tiếp nhận hai sinh viên thực tập cuối khóa ngành công tác xã hội của Đại học Lao Động xã hội do RDSC giới thiệu. Cuộc gặp này là một bước cụ thể để đi đến hợp tác giữa thôn Tân lập với RDSC trong giai đoạn đến hết tháng 9 năm 2009.

Đặc điểm xã hội của thôn Tân lập

Thôn Tân Lập có 80 hộ người dân tộc Dao quần chẹt với có 332 nhân khẩu. Già làng cho biết bà con có nguồn gốc từ Quảng Đông và Quảng Tây di cư sang Việt năm từ chiến tranh thế giới lần thứ hai. Họ Triệu là họ đầu tiên lập ra làng và các họ khác bổ xung vào cộng đồng qua con đường hôn nhân. Các họ khác đến theo làm dâu rể gồm họ Dưõng, họ Phùng , họ Lư, và họ Trịnh. Cả làng còn duy trì một ngôi miếu chung thờ thổ công và người lập ra làng. Trong làng hiện giờ chỉ còn 2-3 vị thầy cúng làm thầy biết đọc chữ nho. Già làng được chọn từ những người trong làng biết chữ nho, biết cúng, biết xem ngày làm nhà, ngày cưới, ngày tết nhẩy (múa ba ngày đêm), nhưng không nhất thiết là từ họ nào.

Trong thôn có 3 người có trình độ trung cấp, đều học ngành mần non (đó là ba cô Sự, Nghĩa, Trúc). Hiện hai người có việc làm. Cả ba đều có chồng, một người chưa có con. Hai người con bé (5 tuổi), một người có bầu. Trong thôn chưa có ai đi lao động nước ngoài, nơi đi làm thường là làm thợ xây ở Phổ yên (Sơn La), Quảng Ninh. Đã có trường hợp đi làm từ Quảng Ninh phải đi bộ về quê vì không có tiền thu nhập.

Cả thôn chia thành hai tiểu khu 1 và 2, được gọi theo tên đội sản xuất từ thời Hợp tác xã. Tiểu khu 2 có: 25 hộ, phụ trách tiểu khu là đội trưởng. Tiểu khu 1 lớn gần gấp đôi tiểu khu 2 với 55 hộ. Đại đa số dân thuộc diện nghèo theo phân loại của nhà nước. Hiện tại, theo trưởng thôn, cả thôn chỉ có ba hộ đã thoát nghèo.

Cả thôn có một đường duy nhất từ đường nhựa Quốc lộ 32 rộng chừng 2 mét có phủ xi măng chừng 1 mét dẫn vào làng do dân góp vốn tự làm năm 2008. Mỗi hộ đã góp 300 000 đ/hộ và 10 công. Hộ nào không có công thì góp tiền 50 000đ/công. Hiện có 50 hộ vẫn còn thiếu ngày công. Toàn dân trong thôn có điện lưới để sử dụng. Tuy không có điện thoại dây, nghĩa là khó tiếp cận với internet, trong thôn có khoảng 10 hộ có điện thoại không dây. Thôn chưa gia đình nào có máy xay xát, không có xe công nông và xe ô tô.

Về tổ chức sản xuất, bà con dân bản từ năm 1969 đã hạ sơn, từ khu vực Mỹ Á trên đỉnh đèo Khế, chuyên sống bằng nương rẫy và phụ thuộc vào rừng, xuống vị trí bây giờ là vùng thấp, sát quốc lộ để sống bằng làm ruộng. Năm 1970 là năm thành lập thôn, khi đó thôn được tổ chức thành 1 Hợp Tác Xã có hai đội sản xuất. Khi đó có một ít người Mường ở xóm Bặn (thôn bên đường quốc lộ) làm trên đất hiện là thôn Tân Lập. Bà con người Mường đã được vận động để giao đất cho bà con người Dao. Đến năm 1995 thì giải thể hợp tác xã, và thực hiện khoán quản.

Kinh tế của thôn

Thu nhập chính của dân bản là từ trồng trọt lúa và hoa màu. Các cây trồng chính là lúa (với diên tích là 11 Ha và năng suất trung bình đạt 130kg/sào), Chè, Lạc. Các nguồn thu từ chăn nuôi còn bấp bênh. Một khoản thu khác của bà con là làm thuê với các nghề thổ và mộc.

Để trồng lúa, bà con trong thôn được nhà nước hỗ trợ mỗi nhà 1,5-2kg lúa lai đủ để trồng trên khoảng 50% diện tích của gia đình. Năng suất lúa lai có thể đạt 150Kg/sào/vụ. Trên diện tích còn lại, dân bản trồng lúa thuần, với giống gia đình tự mua ở thị trường theo giá 5000 đ/kg). Năng suất lúa thuần có thể đạt 130kg/sào.

Nhiều giống lúa truyền thông của người Dao hiện giờ trong bản đã mất và không còn ai có giống. Trước kia, bà con người Dao thôn Tân Lập có trồng lúa đen, chuyên làm rượu, nếp cẩm (để ăn, làm thuốc, màu hồng), nếp chim sỏ, và lúa kén vàng.Theo lãnh đạo thôn, các giống lúa này muốn có thì phải đi Sơn la hay Yên Bái tìm đến các bản người Dao mà mua lại.

Với cây ngô, diện tích của bà con trồng có hạn với mức mỗi nhà chỉ 1 kg ngô giống là vừa đủ diện tích trên đồi. Năng suất ngô đồi trong thôn đạt ~ 100kg hạt/1 sào. Ngoài ngô, một cây lương thực khác là sắn, mà giống do bà con tự để. Ngoài ra, đậu tương là cây hoa màu quan trong trong thôn. Các loại hoa màu được luân canh và xem canh trên đất nương rẫy.

Để giúp nhau về lương thực, bà con trong thôn trước đây vẫn tổ chức chơi phường. Phường lập theo những người cùng hợp tính hà hoàn cảnh, không cứ theo họ. Ngày trước có phường thóc, mỗi nhà góp 50 kg, hoặc 100 tạ. Trong thôn, họ Triệu hay chơi phường. Các họ khác hầu như không thấy chơi phường. Khi nhận phường có thể dùng để ăn, mua sắm hay làm các công việc lớn của gia đình.

Nương rẫy

Bà con dân bản còn trồng trọt trên đất nương rẫy. Cả thôn có 20 Ha đất loại này để trồng sắn, ngô, chè và keo. Các khu vực canh tác nương rẫy chính là khu đồi Trầm, Chân Suối Vàng, Chân Suối Bon, Chân Suối Trội. Đất nương rẫy cũng đã được giao khoán làm bìa đỏ cho các hộ từ năm tháng 3 năm 1996. Năm 1998 các hộ chính thức có bìa đỏ. Tuy nhiên, chỉ có một số hộ đứng tên trên bìa đỏ; trên thực tế, anh em trong họ chia nhau sử dụng đất trên cùng một tấm bìa. Sơ đồ canh tác trên rẫy là sắn trồng xen ngô hay chè hoặc trên đất trồng keo có thể trồng trong 2 năm đầu khi keo còn nhỏ xen đậu, ngô hoặc sắn.

Chăn nuôi

Quan sát trên đường vào làn có thể thấy, các gia đình đều làm chuồng lợn có xây nền và đóng cọc bương tre. Trong thôn chỉ có một gia đình phó thôn , anh Khoa, nuôi hai con nái Móng cái đẻ ra lai F2, đẻ được mấy lứa, có lứa 10 con, hoặc 7 con. Trong thôn không có ai nuôi lợn đực giống. Phần lớn lợn con được bà con trong bản mua của người bán rong với các giống đại bạch hoặc lang hồng.

Già làng và lãnh đạo thôn cho biết, người Dao có ngày xưa nuôi giống lợn bồ cu chân nhện. Loại lợn thịt thơm ngoan này có đặc điểm thân đen tuyền, tai bé, chân bé, con to nhât có thể được 80kg nếu nuôi gần 3 năm, theo kiểu không phải cho ăn. Nếu muốn nuôi giống này thì có thể lên bản người Dao ở Văn Chấn (Yên Bái).

Với trâu bò, bà con trong thôn có hình thức nuôi chia. Theo thỏa thuận, thường là người bố cho con nuôi con trâu mẹ. Khi trâu mẹ đẻ thì ngươi con được giữa lại con nghé, còn con trâu mẹ trả lại cho bố.

Thu nhập từ rừng

Theo Chương trình giao đất giao rừng, trong thôn có 140 Ha rừng bảo vệ được phân cho 9 đoàn thể bảo vệ là Hội ND, HộiPN, Đoàn TN, Hội PN, Hội CCB, và Hội Người Cao tuổi. Hai khu hành chính là tiểu khu 1, tiểu khu 2 cũng là đơn vị nhận bảo vệ. Các đơn vị này bắt đầu nhận từ tháng 10 năm 2008. Lãnh đạo thôn cho biết tới tháng 11 năm 2008, đất rừng đã giao đến 9 nhóm và tháng 6 và 12 là hai đợt giao tiền trong năm 2009.

Các khu vực rừng bảo vệ là Rừng Suối Trội (có tên khác là rừng Ba Gò) có 45 Ha và rừng Suối Vàng có 100 Ha. Rừng Suối Trội còn có cây tự nhiên có gỗ to sồi táu, sến. Ở đây cũng có rừng có cây tái sinh, như trẩu, bồ đề, táu sến. Còn Rừng Suối Vàng chủ yếu là nứa, có thêm một ít cây Sến Táu, cây trẹo.

Việc bảo vệ rừng được thực hiện qua hợp đồng với Dự án 661, do kiểm lâm huyện quản lý. Lãnh đạo thôn cho biết họ nghe nói mức khoán bảo vệ cũ là 40 000 Ha/năm, từ năm 2009 là 200 000 đ/Ha. Ngoài tiền bảo vệ, cộng đồng được quyền lợi là được lấy củi, măng.

Các vị lã nh đạo thôn điều hiểu rõ ý nghĩa của việc bảo vệ rừng là giữ nguồn nước tưới cho các con suối cung cấp nước cho các cánh đồng lúa của thôn. Đó là Suối Trội tưới cho 6 Ha, trong đó có cánh đồng ở khu Đồng Lươn 1 (3 Ha), đồng Lươn 2 (3 Ha). Đó cũng là Suối Vàng tưới cho cánh đồng Trong (1Ha), đồng Móc (1Ha), Đồng Vàng (1,5Ha), Đồng Đá (non 1 Ha), và Đồng Ân (1Ha).

Kế hoạch hoạt động mở rộng tại xã Thu Cúc

Theo kế hoạch năm thứ 2 của giai đoạn 2, Dự án tăng cường Sự Tham gia của Nhân dân trong hát triển kinh tế xã hội. RDSC sẽ mở rộng thêm nhiều nhất là hai thôn trong mỗi xã dự án. Tân lập là một thôn được chọn trong chương trình mở rộng. Các hoạt động mở rộng có thể là a) quỹ quay vòng lương thực b) quỹ vật tư phân bón, c) Quỹ công trình vệ sinh và d) trạm thực nghiệm.

a) Quỹ quay vòng lương thực

Thôn đề nghị hợp tác với RDSC theo mô hình đã thực hiện tại các thôn Chiềng 2, Quỹ có thể thực hiện ở hai khu với 2 tổ, mỗi khu một tổ.

Giả định mỗi tổ có 12 người thành viên nghèo tham gia với mức góp 50 kg thì tổ sẽ tự góp 500 kg. Trung tâm góp đối ứng 500 kg theo giá 4000đ/kg thì mức góp cho một tổ là 2 triệu đ. Với hai tổ thì mức góp là 4 triệu đồng.

Về cách phân bổ, nếu mỗi vụ có 3 người nhận, thì sau 4 vụ tức là hai năm sẽ hết một vòng quay. Nếu hộ nghèo thiếu lương thực thì có có thể góp bẳng tiền, ví dụ 200 000đ/hộ tương ứng với 50 kg thóc. Nếu chờ cho có thóc thì thôn sẽ đợi tới tháng 6 dưõng lịch gặt thì làm. Còn nếu muốn triển khai ngay trong tháng 3 /09 thì sẽ huy động tiền để mua thóc.

b) Quỹ vật tư phân bón

Thực hiện theo cách RDSC gửi tiết kiệm cho các hộ nghèo tham gia nhóm Quỹ Tín dụng Phụ nữ để quỹ cho vay bổ xung theo chế dộ vay ngắn hạn để mua phân bón và thanh toán vào cuối vụ cả gốc và lãi. Quỹ cho vay phân bón có thể triển khai để cho vay cho các đợt bón thúc và bón đón đòng. Quỹ phân bón sẽ kết hợp hướng dẫn làm phân xanh để chuẩn bị bón lót cho vụ sau.

c) Quỹ công trình vệ sinh

Thực hiện theo cách RDSC gửi tiết kiệm vào Quỹ tín dụng Phụ nữ để có thêm vốn cho các hộ nghèo tham gia nhóm Quỹ Tín dụng Phụ nữ để quỹ cho vay bổ xung theo chế dộ vay một năm để làm nhà xí hai ngăn kiểu đơn giản theo mẫu ở trại thực nghiệm để có thêm phân bắc bón ruộng. Vốn và lãi trả theo bốn đợt theo 4 quý để quay vòng sang các hộ khác.

d) Mô hình trạm thực nghiệm

Dựa trên kinh nghiệm Trạm thực nghiệm thôn Chiềng 2 trong xã, Thôn Tân Lập sẽ xem xét khả năng tìm đất để xây dựng khu trại thực nghiệm mới trong thôn. Khu vực này sẽ xây chuồng trại để nuôi lợn giống, nhất là phục hồi giống lợn bồ cu chân nhện. Trạm cũng trồng cây thức ăn gia súc. Lao động trong trạm sẽ tuyển trong để chăm sóc gia súc và trồng trọt.

Thôn cho biết hiện có một gia đình có một khu đất có ao cá ở khu Đồng Vàng, có chừng 5 sào hiện đã chặt bỏ chè do giá trị thấp. Ở khu đó có điện và nước sạch. Đất rẫy ở đó có thể phù hợp để trồng các giống lúa dân tộc trên khoản ba sào đất lúa rẫy

Hai bên thống nhất là ông trưởng thôn và chi hội trưởng HND thôn sẽ cùng xúc tác viên RDSC tại Thu Cúc lập Phương án đầu tư, tìm hiểu khả năng thỏa thuận về đất, tuyển dụng lao động, tìm thợ xây. Thời điểm hai bên gặp nhau dự kiến vào đầu tháng 4.

Kết luận

Trong cuộc họp này, lãnh đạo thôn và RDSC đã trao đổi thông tin về cộng đồng và các hoạt động của hai bên. Hai bên đã thống nhất nội dung cụ thể về việc hợp tác trong phát triển cộng đồng, kế hoạch và phương thức triển khai. Do vắng sự tham gia của HPN thôn, việc triển khai các loại quỹ vật tư, quỹ công trình vệ sinh cần sự trao đổi bổ xung với lãnh đạo hội, và lãnh đạo Quỹ tín dụng.

Hai bên cũng thống nhất là trong tuấn sau, Lãnh đạo thôn sẽ có thư đề nghị Đảg ủy và UBND xã thông nhất với chương trình hợp tác mà hai bên đã thảo luận. Chương trình hợp tác sẽ thực hiện ngay khi có chủ chương đồng ý của UBND xã.
Số lượt đọc:  79  -  Cập nhật lần cuối:  09/03/2009 05:28:34 AM
Bài mới:  
Bài đã đăng:
Các bài được đọc nhiều nhất
23/11/2009 12:49' PM
Tham quan trại nuôi gà và nuôi giun tại xã Xuân Lũng
14/09/2009 03:52' PM
Kỹ thuật chăn nuôi thỏ quy mô hộ gia đình tại Phú Thọ
26/11/2006 01:19' AM
Tài liệu về Chương trình 135 Giai đoạn 2 (2006-2010)
08/04/2009 05:33' AM
Vai trò giới trong phân công lao động gia đình ở Việt Nam qua những biến động xã hội
16/07/2006 09:01' AM
Kỹ thuật Trồng và Chăm sóc Tre Bát độ để lấy Măng
24/06/2006 08:54' AM
Viết Thu hoạch sau Cuộc Tham quan Học tập
14/09/2009 10:06' PM
Kỹ thuật trồng nấm mèo
15/06/2010 08:40' PM
Mẹo sử dụng và cài đặt font tiếng Việt cho SPSS 15 và 16
11/03/2009 05:51' AM
Chia sẻ kỹ thuật chăm sóc heo nái khi sanh sản và hậu sanh sản
21/02/2008 09:24' AM
Hướng dẫn lập và sử dụng trang web qua My.opera.com
Đăng ký nhận tin thư
Họ và tên:
Email:
Tổng số lượt truy cập: 5.776.185
Số người trực tuyến: 30

©2004 Bản quyền Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn - RDSC
Số 2 nhà D, 45/39 Hào Nam, Đống Đa, Hà Nội,Việt Nam
Email: rdsc@netnam.vn - Phone: +84-4-3-512 1175 - Fax: +84-4-3-512 1175
Website được xây dựng trên Công nghệ ViePortal của Hanoi Software JSC