Bà con bản Bồ Xồ thăm quan tổ Thổ Cẩm ở bản Suối Nhúng
Nguyễn Thị Hồng Thanh, Cử nhân Công tác xã hội
XTV phát triển cộng đồng
15/06/2009
1. Bối cảnh
Trong năm 2009, Dự án “Tăng cường sự tham gia trong phát triển kinh tế xã hội” Pha 2 tiếp tục các hoạt động tại xã Yên Lương huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Kế tiếp các hoạt động về quỹ tín dụng, quỹ công trình vệ sinh, quỹ nuôi chia dê bò, tọa đàm chính sách, tập huấn khuyến nông tại hai thôn người Mường, Dự án mở rộng sang các thôn người Dao, như thôn Bồ Xồ là một thôn xa và cách biệt của xã.
Trong lần gặp gỡ với lãnh đạo và nhân dân trong thôn vào tháng 4 năm 2009, nhóm cán bộ dự án đã quan sát thấy phụ nữ Dao trong thôn có tiềm năng phát triển ngành thêu thổ cẩm trên cơ sở các kỹ năng thêu theo các mẫu mã truyền thống trên vải nhuộm chàm và in hoa văn bằng sáp ong. Hàng thổ cẩm hiện tại do chị em làm tranh thủ khi nông nhàn dùng cho các thành viên gia đình. Được biết về mong muốn của lãnh đạo và phụ nữ thôn về phát triển nghề thêu thổ cẩm thành sản xuất hàng hóa để tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho chị em người Dao, Lãnh đạo Dự án của RDSC đã tổ chức cho đại diện nhóm người dân thôn Bồ Xồ, xúc tác viên phụ trách xã đi tham quan Tổ dệt thổ cẩm của phụ nữ Dao Tiền tại bản Suối Nhúng, xã Phúc Sạn, huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình vào ngày 08 tháng 06 năm 2009.
Mục tiêu của đoàn tham quan là a) tìm hiểu phương thức sản xuất, và tổ chức quan lý của tổ thổ cẩm, b) tìm hiểu phương thức tiếp thị sản phẩm và c) thảo luận về khả năng Tổ Thổ cấm Suối Nhúng hỗ trợ kỹ thuật qua chế độ kèm cặp cho nhóm thổ cẩm thôn Bồ Xồ.
Tham gia Đoàn tham quan có có 04 người (3 nam) trong đó có trưởng thôn và hai người dân thôn Bồ xồ và xúc tác viên của dự án. Đáng tiếc là phái nữ, người trực tiếp làm thổ cẩm không có ai đi vì đường xa và đi bằng xe máy. Đoàn rời Hương Cần từ ngày 8 và về ngày 9/6/2009, trong thời gian này, đoàn đã dành một ngày để thảo luận, phỏng vấn và quan sát các hoạt động của Tổ thổ cẩm Suối Nhúng.
2. Vài nét sơ lược về bản Suối Nhúng
Từ ngã ba Hương Cần của huyện Thanh Sơn, đoàn tham quan đi xe máy theo đường tỉnh lộ 316 quanh co vượt qua bao con dốc giữa trời nắng mùa hè và có mặt tại bản Nhúng lúc 13h30. Bản Nhúng nằm heo hút dưới chân núi giáp với tỉnh Sơn La. Bản có diện tích là 320hec-ta, trong đó diện tích rừng bảo vệ là 250 ha và 70 ha là đất đồi và đất ở. Dân số của bản là 200 khẩu trong 43 hộ. Là một bản nghèo theo chuẩn của nhà nước, theo cách xem xét của thôn thì bản có 23 hộ nghèo.
Người dân ở đây sống chủ yếu là bằng làm nương. Các cây trồng chính là lúa, ngô và sắn. Trung bình, lúa đạt 2,5 tấn/ 1 ha. Chăn nuôi của thôn có các vật nuôi chính là trâu, heo, cá, gà, nhưng không phổ biến. Nếu so sánh bản Nhúng với bản Bồ Xồ, dường như bản Suối Nhúng có mức sống cao hơn. Tỷ lệ hộ nghèo ở đây chỉ là 23/40 hộ, còn ở Bồ Xồ toàn bộ số hộ là hộ nghèo, không có hộ khá. Thôn có 10 hộ được coi là có cuộc sống “nhỉnh hơn một chút” nhưng vẫn thuộc nhóm hộ nghèo.
3. Quá trình hình thành Tổ thêu in Thổ Cẩm tại bản Suối Nhúng
Theo Ban Quản lý, năm 1997 có Dự án phát triển cộng đồng (người trả lời không rõ là dự án tên là gì) về bản khảo sát. Sau đó dự án tập huấn kỹ thuật, hướng dẫn làm mẫu mã thêu thổ cẩm và hỗ trợ bà con trong phát triển ngành thủ công truyền thống. Dự án này có các nhà tài trợ từ ba nước Mỹ, Ân độ, và Canada cùng phối hợp hỗ trợ. Họ trực tiếp về cộng đồng khảo sát không thông qua tổ chức Việt Nam. Cô Minh tổ trường cho biết “khi đó dân ở đây nghèo lắm 80 % là thiếu ăn, dân trí thấp đa phần là mùa chữ. Dự án phát triển cộng đồng vào hỗ trợ tổ thêu thổ cẩm nhưng không phải vào là hỗ trợ được liền mà phải qua hai năm mới cho ra được 15 sản phẩm”.
Hoạt động đầu tiên của Dự án là xóa mù chữ cho chị em tham gia. Sau đó, dự án mới tổ chức các buổi tập huấn về cách thêu và in thổ cẩm theo mẫu mã mà bên dự án đưa ra. Dựa trên các hoa văn truyền thống của người Dao, chị em đã học để làm ra các mẫu sản phẩm khác nhau như túi xách đủ loại, vỏ gối, ví tiền, áo thời trang, và vật dụng trang trí gia đình. Tổ không làm hoàn thiện các sản phẩm, mà chỉ làm khâu thêu và in hoa văn . Công đoạn còn lại do nhóm khác ở Hà Nội thực hiện.
Thời gian đầu, cả nhóm có 40 chị em tham gia tập huấn, tuy nhiên, chỉ có 17 chị em theo đuổi được cho đến khi có sản phẩm hoàn thiện. Có nhiều lý do mà chị em không theo tới cùng được. Các chị cho biết là do “nhà nghèo neo lao động, chồng đi làm nương về mà vợ không giúp được cơm nước nên vợ chồng cãi nhau nên chị em bỏ dần việc học nghề”. Trong thời gian đó, có một chị được đi Ấn Độ tham quan học hỏi kinh nghiệm, nhưng khi về chị cũng không thể học đến phút chót.
Bài học kinh nghiệm của tổ thổ cẩm bản Suối Nhúng mà cô Minh tổ trưởng đã chia sẻ là, việc xây dựng và duy trì hoạt động của tổ để có sản phẩm có chất lượng là một điều rất khó và đòi hỏi sự kiên trì. Muốn làm được điều này, “chị em phải kiên trì bao bọc, yêu thương nhau, giúp đỡ nhau và minh bạch trong khâu quản lý”. Ngoài ra, do tổ viên sẽ mất nhiều thời gian để học làm mẫu mã mới; khi đó chị em không được hỗ trợ tiền mà chỉ được kiến thức nên rất cần người chồng biết thông cảm cho vợ, giúp vợ trong việc nhà và nương rẫy để vợ yên tâm học nghề.
4. Quy mô sản xuất và tiêu thụ
Đến năm 1999, sau nhiều khóa tập huấn, cả tổ 17 người mới cho ra được 15 sản phẩm như túi xách và ví đựng tiền. Ngày đó, một cái ví đựng tiền giá 56 ngàn còn hiện nay giá cái ví được 7 ngàn/ cái. Những năm đầu thu nhập của chị em cao nhưng một số năm lại đây tỷ lệ đặt hàng ít hẳn. Năm 2000, 17 chị em làm được tổng 100 triệu; năm 2001 -- 82 triệu; năm 2002 -- 78 triệu. Từ đó về sau này lượng hàng ít hẳn: mỗi năm thu được khoảng 20 triệu – 30 triệu tính cho 17 chị em. Hai năm nay, lượng hàng giảm hẳn chỉ còn một vài lần đặt hàng/ năm thu nhập không đáng kể. Một nguyên nhân dấn đến tình trạng trên là đặc điểm trang phục của người Dao tiền dựa trên nền màu đen, các sản phẩm thêu cũng trên nền đen, ít đa dạng màu sắc và ít hợp thị hiếu người phương tây.
Ngoài hỗ trợ ngành thủ công, Dự án phát triền cộng đồng còn hỗ trợ các nghề phụ như tổ chức các nhóm sở thích, ví dụ nhóm nuôi ong (ba hộ tham gia), nhóm nuôi cá (08 hộ), nhóm nuôi Tắc kè (ba hộ), và nhóm nuôi thỏ. Các nhóm sỏ thích hiện vẫn còn duy trì, trừ nhóm nuôi thỏ hiện đã thanh lý vì không có hiệu quả.
Các cô cho biết từ ngày có dự án hỗ trợ cuộc sống của chị em có thêm thu nhập và đời sống tăng lên, tỷ lệ hộ nghèo và thiếu ăn giảm hắn. Trong 17 chị em lúc đầu đều là hộ nghèo, hiện chỉ còn 6 hộ nghèo thiếu ăn. Các hộ còn lại đều đủ ăn và gia đình thu xếp được cho con cái ăn học.
5. Tổ chức và quản lý sản xuất
Dự án đã thành lập ra Ban quản lý gồm ba người, trong đó có một tổ trưởng, một kế toán, và một thủ quỹ. Tổ trưởng có vai trò nhận đơn đặt hàng về cho chị em làm, và đầu mối cho các mối quan hệ, kế toán ghi chép sản phẩm cho chị em, quản lý hành chính. Thủ quỹ là người cầm tiền. Khi giao hàng, ba chị em trong Ban quản lý thay nhau đi giao hàng tận Hà Nội.
Khi nhận được đơn đặt hàng tổ trưởng chia đều cho chị em về nhà làm tranh thủ vào giờ nông nhàn còn in mới phải ngồi tập trung tại một hộ, nhưng phải giao hẹn đúng thời gian để đi giao hàng cho đối tác còn tổ chức nào mua hàng thì trong nhóm không ai biết, có thể họ không tiết lộ để giữ mối.
Để duy trì được tồ, tổ trưởng phải thường xuyên liên hệ với bên đối tác và kết hợp với phụ nữ xã, huyện mời người về tập huấn những mẫu mã mới và cho vay vốn về mua nguyên vật liệu và quản lý vốn cho chị em trong tổ.
Chị em hưởng công theo số lượng và chất lượng sản phẩm: món hàng nào đẹp và bán được thì chị đó được tiền. Sản phẩm nào không đạt tiêu chuẩn bị trả về các chị phải chịu. Tuy nhiên, các chị trong nhóm làm ra sản phẩm chưa khi nào bị trả về. Chỉ có năm đầu do mới làm nên có 8 chị em biết làm ra sản phẩm nên khi giao hàng về chia đều cho 17 chị em cùng hưởng như nhau.
Tuy không có nhiều thời gian tiếp xúc Ban quản lý tổ, tôi thấy nhóm có sổ sách ghi chi tiết, rõ ràng. Các chị em tổ viên cho biết “Khi nhận đơn đặt hàng, chúng tôi tính sao cho sản phẩm và lợi nhuận cho mỗi chị em là như nhau. Chúng tôi chia đều sản phẩm về nhà làm nên không ai có thu nhập cao hơn hay thấp hơn ai”.
6. Kỹ thuật trình dệt thổ cẩm
Khác cách thêu dùng khung thông thường, chị em người Dao chỉ cần cái kim sợi chỉ và đôi bàn tay các bà các chị đã có thể tạo ra những tấm thổ cẩm rực rỡ sắc màu với những họa tiết gần gũi với thiên nhiên, đời sống con người. Thường các họa tiết đặc trưng của người Dao Tiền là hình hoa lá chim muông cỏ cây và mây trời.
Để có một sản phẩm đẹp, trước hết chị em phải kỹ trong khâu chọn vải sao cho có sợi vải đều. Có hai cách để làm ra sản phẩm đó là thêu tay và in hoa văn. Theo các chị cho biết thêu tay chỉ cẩn khéo léo và nhìn vào hoa văn truyền thống thì cho ra sản phẩm.
In hoa văn là kỹ thuật khó hơn và đòi hỏi nhiều thời gian hơn. Thứ nhất, người thợ cần chuẩn bị nguyên liệu gồm chàm, sáp ong, vôi, .... Để in bằng sáp ong, có các công đoạn: trồng cây Chàm, lấy chàm về ngâm ủ ba ngày mới lấy vôi để hòa vào nước chàm tới khi sóng sánh nổi bọt lên mới được và để cho lắng hết tinh bột của chàm rồi mới bỏ dần nước trên đi. Công đoạn tiếp là lấy nước tro cùng với tinh bột của chàm cho vào một chiếc nồi để ủ cho đến bao giờ đánh thấy bọt có bong bóng và sóng sánh thì lúc đó mới nhuộm được vải.
7. Thị trường đầu và và đầu ra cho sản phẩm
Nguồn nguyên liệu tổ đi mua ở huyện Mai Châu hoặc ở Sa Pa; vải thì mua dễ nhưng sáp ong thì đắt và hiếm.
Mỗi lần tổ nhận đơn đặt hàng đều do dự án trực tiếp liên hệ qua đầu mối tại Hà Nội. Tổ chỉ nhận hàng và làm theo yêu cầu sau đó đi giao nhưng chỉ đến bến xe là có người đón và giao nhận chứ các cô không phải vào chỗ trụ sở của dự án. Mối lần có mẫu mã mới tổ được dự án về tập huấn kỹ thuật phối màu và chọn màu theo đơn đơn đặt hàng các khách.
Đã 12 năm với bao khó khăn, tổ hiện nay vẫn duy trì. Khi hỏi đến công việc thêu thổ cẩm, chị em ai cũng hào hứng tuy hiện nay đơn đặt hàng ít quá nên chị em tranh thủ đi nương.
8. Khả năng hợp tác giứa hai nhóm thổ cẩm ở Bồ Xồ và Suối Nhúng
Khi thảo luận về hợp tác, đại diện hai bản dùng tiếng Dao Tiền nên xúc tác viên của RDSC không nắm được quá trình trao đổi. Sau cuộc trao đổi, bác Sông đại diện cho người dân Bồ Xồ cho biết “chú nhờ họ kèm cặp hướng dấn các mẫu mã mới nhưng phải có chế độ như đi lại và ăn ngủ, lệ phí cho mỗi ngày là 70 ngàn. Đại biểu thôn Suối Nhúng áp dụng chế độ họ đang áp dụng cho có lớp dạy chữ Dao trong thôn, theo đó mỗi người đi dạy được 70 ngàn/ ngày, thành viên tham gia được 25 ngàn/ ngày”. Thời gian kèm cặp có thể là trung tuần của tháng 07 năm 2009. Theo kế hoạch, mổi tháng kỹ thuật viên bên Suối Nhúng sang hướng dẫn trong hai tuần. Tuần đầu tiên sẽ có hai người sang, còn sang tuần thứ hai trở đi thì chỉ cần một kỹ thuật viên hướng dẫn.
9. Kết luận và khuyến nghị
Mong muốn của đoàn tham quan là được trực tiếp quan sát chị em Bản Nhúng thêu và in hoa văn, tuy nhiên do thời gian này không có đơn đặt hàng, chị em nghỉ làm đi nương vì thế đoàn chúng tôi chỉ được ngồi nghe kể. Khó khăn của tôi trong chuyến đi này là sự khác biệt ngôn ngữ. Trong buổi họp với nhóm, khi các chị trao đổi với nhau bằng tiếng Dao thì có những chuyện mà tôi không thể hiểu được. Tuy chị em ở bản Nhúng rất nhiệt tình, tiếp đón đoàn rất vui vẻ, nhưng có lẽ nhiều thông tin về nơi tiêu thụ, về các mẫu mã mới chưa được chia sẻ.
Tuy tổ vấn duy trì hoạt động, việc số lượng đơn hàng giảm trong thời gian gần đây và giá bán sản phẩm giảm cũng là thách thức của tổ. Khâu tiêu thụ là một vấn đề mà tổ thêu thổ cẩm Bản Nhúng đang gặp phải, do họ không chủ động tiếp cận thị trường mà phải bán qua trung gian.
Chị em thôn Bồ Xồ xã Yên Lương hiện đã thành thạo trong cách thêu và cho ra sản phẩm. Hiện trong các gia đình đăng ký tham gia nhóm thổ cẩm đều có kim chỉ thêu và vải. Theo trưởng thôn Bồ Xồ, giờ chỉ cần người về dạy các mẫu mả mới và máy khâu.
Nếu “Dự án Tăng cường sự tham gia của nhân dân trong phát triển kinh tế xã hội” giúp phụ nữ Dao thôn Bồ Xồ chuyển hoạt động thêu thổ cẩm phục vụ gia đình thành sản xuất phục vụ thị trường có khả năng tạo việc làm để tăng thu nhập, và cải thiện đời sống cho phụ nữ của một nhóm dân tộc yếu thế. Tuy nhiên, kinh nghiệm tại bản Suối Nhúng cho thấy, thời gian tập huấn kỹ thuật và tập làm mẫu mã mới khá là lâu. Chi phí nguyên liệu để tập huấn cũng đáng kể trước khi có sản phẩm bán ra thị trường. Đây là điều Dự án phải cân nhắc kỹ trong điều kiện dự án chỉ còn ba tháng nữa là kết thúc. Khi quyết định hỗ trợ hợp phần, một kế hoạch chi tiết cụ thể là một điều rất quan trọng.
Các khoản đầu tư chính của kế hoạch là tiền thuê người kèm dạy theo mức 70 ngàn/ ngày, tiền xe đi lại từ Mai Châu – Hòa Bình sang Thanh Sơn, tiền ăn cho những ngày giáo viên ở tại thôn dạy, và một số nguyên vật liệu mà hiện trong thôn Bồ Xồ chưa có như vải phù hợp với mẫu mã mới. Ngoài ra, người dân thôn Bồ Xồ và dự án cần có hoạt động tìm hướng tiêu thụ sản phẩm, hay tìm thị trường để đảm bảo tính khả thi khi có sản phẩm./.
Số lượt đọc:
42
-
Cập nhật lần cuối:
29/06/2009 09:05:51 PM Bài mới:
 Nuôi giun quế ở cộng đồng thôn Quất và Bồ Xồ 01/04/2012 03:44' PM Nuôi giun quế là một hoạt động bổ trợ để thúc đẩy chăn nuôi gà an toàn
sinh học cho các CLB chăn nuôi của chị em dân tộc Dao và Mường ở hai
thôn vùng cao Quất và Bồ Xồ (xã Yên Lương). Tuy được phổ biến rộng rãi
trên báo chí, trên thực tế, trong gần một nghìn hộ ở xã Yên Lương chỉ có
một hộ nuôi giun quế ở quy mô nhỏ, và một điểm nuôi giun trình diễn ở
Trạm thực nghiệm của Trung tâm RDSC. Cả hai điểm đều chưa đủ điều kiện
để cung cấp giun quế giống cho nhân dân trong xã. Hoạt động tổ chức cộng đồng của dự án CASI 3 tại Yên Lương03/03/2012 12:03' PM Trong tháng 2, Dự án CASI 3 Yên
Lương có những hoạt động về tổ chức cộng đồng ở cấp xã và thôn. Dự án đã tổ chức Ban Quản lý và cộng đồng đã hình thành hai CLB và lãnh đạo của CLB tại thôn Quất (phụ nữ Thổ và Mường) và Bồ Xồ (phụ nữ Dao). Các CLB đã đưa ra kế hoạch hoạt động chi tiết của dự án cho tháng 3/2012. Ngành an ninh làm việc với RDSC PT về dự án CASI 316/02/2012 02:50' AM Ngày 14 tháng 2 năm 2012, cán bộ công an của ba cấp, xã Yên Lương, huyện
Thanh Sơn và tỉnh Phú Thọ đã tới thăm và làm việc với Văn phòng RDSC
Phú Thọ. Tiến độ phê duyệt dự án CLB chăn nuôi tổng hợp gia cầm sạch của phụ nữ tại Yên Lương12/02/2012 03:49' PM Chiều ngày 7 tháng 2 năm 2012, nhóm cán bộ RDSC Phú Thọ và lãnh đạo xã
Yên Lương đã có cuộc họp trao đổi về tiến độ phê duyệt dự án “Hỗ trợ phụ
nữ nghèo dân tộc Dao thôn Bồ Xồ tổ chức câu lạc bộ (CLB) sản xuất gà an
toàn sinh học theo quy mô hàng hoá nhỏ định hướng thị trường”. Về phía
xã có bí thư đảng uỷ xã, đại diện UBND, Hội phụ nữ và đoàn thanh niên.
Đây là cuộc gặp thứ ba giữa hai bên, kể từ cuộc họp giới thiệu ý tưởng
dự án do RDSC thực hiện trong năm 2011. RDSC và CARE thoả thuận về thực hiện “Dự án hỗ trợ phụ nữ nghèo dân tộc Dao20/01/2012 12:19' AM Ngày 16 tháng 12, RDSC và CARE đã ký các văn bản thoả thuận về thực hiện sáng kiến “Dự án Hỗ trợ phụ nữ nghèo dân tộc Dao thôn Bồ Xồ và Quất tổ chức câu lạc bộ sản xuất gà an toàn sinh học theo quy mô hàng hoá nhỏ định hướng thị trường”, một trong bốn giải thưởng của năm 2011 của Chương trình CASI III được chọn từ hơn 40 ứng viên của các tỉnh miền núi phía bắc. Trung tâm RDSC đã làm các thủ tục xin phê duyệt dự án với UBND tỉnh Phú Thọ từ ngày 30 tháng 12 sau khi hoàn tất các thủ tục mở tài khoản và ký kết các thoả thuận tài chính với CARE và cả ngân hàng. Bài đã đăng: Thông báo về cuộc thi "Viết về những đổi thay đổi cộng đồng" 21/04/2009 09:40' AM Tiến tới kỷ niệm 15 năm thành lập và ghi nhận những bài học từ cộng đồng, phối hợp với Phòng Văn hóa hai huyện Tân Sơn, Thanh Sơn và Thanh Thủy, RDSC phát động cuộc thi “Những câu chuyện về sự thay đổi”. Sự thay đổi xã hội có thể thể hiện qua câu chuyện của một cá nhân, tổ chức, một nhóm cộng đồng được xảy ra trong quan hệ với hoạt động của Trung tâm. Cuộc thi có ba giải nhất trị giá một triệu đồng/giải, ba giải nhì (mỗi giải tám trăm nghìn đồng), và ba giải ba (mỗi giải 500 nghìn đồng). Ngoài ra, còn 10 giải khuyến khích, mỗi giải trị giá 100 nghìn đồng. Các bài dự thi trúng tuyển lựa chọn và tuyển tập biên soạn thành sách kỷ niệm. Toạ đàm về thực hiện bình đẳng giới ở xã Thu Cúc 13/03/2009 02:01' PM RDSC PT. 130309.-- Là một xã dân tộc miền núi cuả tỉnh Phú Thọ, thực hiện bình đẳng giới trong thực tiễn cuộc sống ở cộng đồng xã Thu Cúc còn nhiều thách thức. Theo lãnh đạo xã, các biểu hiện của bất bình đẳng giới còn phổ biến, và một nguyên nhân quan trọng là nhận thức về bình đẳng giới còn có hạn trong cộng đồng và cả trong các đoàn thể và chính quyền cơ sở. Cuộc tọa đàm về thực thi chính sách bình đẳng giới được Hội Phụ nữ xã Thu Cúc và Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn (RDSC) tổ chức vào chiều ngày 5 tháng 3 năm 2009 tại Phòng họp UBND xã đã góp phần đáp ứng nhu cầu về tăng cường nhận thức những vấn đề bình đẳng giới, cũng là hoạt động thiết thực kỷ niệm ngày Phụ nữ Quốc tế 8-3. Hợp tác với GLMi để thực hiện dự án tại Kon Tum 11/03/2009 07:39' AM Trong năm 2009, GLMi, một NGO của Nhật bản đã thống nhất hợp tác với RDSC đẻ thực hiện một dự án nhỏ tại xã Dak R wa, Kon Tum. Đối tác của GLMi tại Kon Tum là UBND thị xã Kon Tum. Vai trò của RDSC trong dự án là việc cung cấp chuyên gia kỹ thuật và quản lý.Dự án sẽ dự kiến kéo dài trong 12 tháng và dự kiến sẽ khởi động vào tháng 5 năm 2009. RDSC đã tới Kon Tum từ năm 2002 với các hoạt động phát triển cộng đồng trong một năm. RDSC nối lại các hoạt động tư vấn phát triển tại Kon Tum trong năm 2005-2006. Từ 2007, RDSC có văn phòng chi nhánh tại Kon Tum. Bài học để thực hiện Quỹ quay vòng lương thực năm 2009 09/03/2009 12:25' PM Sang vụ chiêm năm 2009, các xúc tác viên của các xã Thu Cúc, Tân Lập và Yên lương đang triển khai mở rộng các mô hình đã thực hiện sang các thôn mới. Trong các mô hình này có mô hình Quỹ Quay vòng Lương thực. Kết quả đánh giá việc thực hiện Quỹ Quay vòng lương thực trong vụ mùa năm 2008 cho thấy các mô hình này được cộng đồng rất hoan nghênh và cho rằng có ý nghĩa tích cực trực tiếp với người nghèo. Các mục tiêu của Quỹ cơ bản đã đạt được. Tuy nhiên cuộc đánh giá cũng nêu ra những bài học để tổ chức Quỹ quay vòng lương thực tốt hơn. Các bài học này được đúc kết trong tiến trình nêu dưới đây. Cộng đồng Thôn Tân Lập xã Thu Cúc hợp tác với RDSC trong năm 2009 08/03/2009 05:28' AM Ngày 5 tháng 3 năm 2009, lãnh đạo Ban Quản lý Dự án Tăng cường Sự tham gia của nhân dân trong phát triển kinh tế xã hội Phú Thọ đã có cuộc gặp với lãnh đạo thôn Tân Lập xã Thu Cúc. Lãnh đạp thôn đã giới thiệu về thôn và hai bên đã thảo luận khả năng hợp tác trong những tháng cuối của dự án trong năm 2009 |