RDSCVN
Đang tải dữ liệu...

Giới thiệu RDSC    |    Tin tức sự kiện    |    Diễn đàn    |    IDMA    |    Video    |    Âm thanh    |    Gallery    |    Slide show

Trưng cầu ý kiến
Dành cho các anh/chị kế toán.
Trong thực tế, Anh/chị dùng phần mềm kế toán chuyên dụng chủ yếu để làm việc gì? Không chọn quá 3 phương án.
 
Hỗ trợ trực tuyến

Comparnet

Hội thảo về lồng ghép giới vào chương trình phát triển kinh tế xã hội huyện Tân Sơn

RDSC Phú Thọ.- 28/08/2009.

Trong ba ngày 13-15 tháng 8 năm 2009, 25 cán bộ chính quyền cơ sở huyện, xã, thôn, các đoàn thể Hội nông dân, Hội phụ nữ, và các cán bộ khuyến nông các xã Thạch Kiệt, Kiệt Sơn, Thu Cúc, Xuân Đài và Kim Thượng (huyện Tân Sơn, Phú Thọ) đã gặp gỡ với các cán bộ RDSC Phú thọ tại nhà khách Việt Anh tại Kiệt Sơn để thảo luận về chủ đề lồng ghép giới vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. Cùng tham gia hội thảo có đại biểu của Phòng Nông nghiệp huyện, Phòng Lao động Thương binh Xã hội, Hội Phụ nữ và Hội Nông dân huyện Tân Sơn. Hội thảo cũng có dịp trao đổi với lãnh đạo của chi cục nông nghiệp và liên minh các HTX Phú thọ để thảo luận về các vấn đề xây dựng các chức hợp tác và chương trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh Phú thọ.

Hội thảo diễn ra trong bối cảnh, chính quyền các cấp đã và đang hoàn thiện đề án Hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững để thực hiện. Cũng trong giai đoạn này, chính phủ cũng đang soạn thảo đề án lược an sinh xã hội với tầm nhìn tới năm 2020. Điều quan tâm của Hội thảo là các đề án này thể hiện việc lồng ghép giới với các chương trình phát triển ở mức độ nào. Hội thảo được dự án Tăng cường sự Tham gia của Nhân dân trong Phát triển Kinh tế-Xã hội tổ chức, hướng về một mục tiêu của dự án là thúc đẩy những giá trị bình đẳng giới và giảm nghèo trong các chương trình phát triển.

Trong ngày thứ nhất, hội thảo đã dành buổi sáng để tìm hiểu chương trình 30a, công văn 705-TTG-KGVX về việc tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết 30a/208-TTg/NQ-CPCQ. Các đại biểu đã nghiên cứu cách đặt vấn đề về nghèo đói ở 61 huyện nghèo và những phân tích nguyên nhân của nghèo đói. Các đại biểu đã vận dụng khung phân tích Mạnh-Yếu Thuận lơi-Khó khăn (hoặc cơ hội và cản trở) đã nhìn nhận các yếu tố khách quan và chủ quan tác động tới sự phát triển của khu vực nghèo dân tộc và miền núi được phân tích của nghị quyết. Qua thảo luận nhóm, các đại biểu cũng soi xét và làm rõ các nguyên nhận trong những điều kiện cụ thể của địa phương và cộng đồng mình. Một chú ý được ghi nhận là các yếu tố điểm mạnh và các cơ hội phát triển chưa được đề cập trong nghị quyết.

Qua các thảo luận nhóm để xem xét các mục tiêu giảm nghèo cho cộng đồng của mình theo các mốc 2010, 2015 và 2020 dựa trên tốc độ giảm nghèo của các năm trước, các hoạt động của dự án 135 Giai đoạn 2, và các hoạt động của chương trình 30a trong năm 2009, các đại biểu ở các thôn và các xã tham gia dự án đều cho là mục tiêu chung mà nghị quyết 30a đề ra cho cả nước là rất khó thực hiện ở địa phương mình. Mức giảm nghèo 5% một năm được đề xuất trong nghị quyết để đạt 40% hộ nghèo được coi là khó có khả năng thực hiện tính đến năm 2010. Mức hiện tại của các địa phương chỉ là 1-2% năm. Hiện tượng tái nghèo khá phổ biến theo các ý kiến của các lãnh đạo thôn, trong khi các biện pháp giảm nghèo được tiếp tục tăng cường lại thiên về cải thiện nhà ở, cơ sở hạ tầng như đường nông thôn, hoặc nước sạch, ít có tác động giảm nghèo.

Các đại biểu quan tâm về tính khả năng của mục tiêu giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp xuống tới mức 60%. Điều này đòi hỏi phải diễn giải tỷ lệ lao động nông thôn được đào tạo huấn luyện ở mức 40% là phải đạt trình độ có tay nghề phi nông nghiệp và có việc làm khá ổn định. Các lãnh đạo cộng đồng các thôn và xã thuần nông tham gia hội nghị đều không hình dung rõ ràng được các phương thức, ví dụ dạy nghề và tạo việc, làm thế nào để đạt chỉ tiêu này trong thực tiễn. Trong số cộng đồng có đại biểu tham gia hộ nghị, số hộ làm phi nông nghiệp (kiêm nhiệm) chiếm tỷ lệ dao động trong khoảng 5-10% số hộ, và tạo cho việc làm ít hơn 5% lao động trong thôn.

Hội thảo đã dành thời gian nghiên cứu công văn 705-TTG-KGVX về việc tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết 30a/208-TTg/NQ-CPCQ, và các Quyết định 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 Phê duyệt đề án hỗ trợ các huyện nghèo xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009-2020, Quyết định 167/2008/QĐ-TTg ngày 12 tháng 12 năm 2008 về Chính sách hỗ trợ người nghèo về nhà ở, Quyết định 70/2009/QĐ-TTg về chính sách luân chuyển tăng cường cán bộ chủ chốt cho các xã thuộc 61 huyện nghèo, và chính sách ưu đãi khuyến khích tri thức trẻ về tham gia tổ công tác tại các xã thuộc 61 huyện nghèo theo nghị quyết 30a.

Các tham dự viên đã nghe báo cáo điều tra về bình đẳng giới do RDSC thực hiện tại ba thôn Bặn, Mỹ Á, và Tân Lập của xã Thu Cúc. Báo cáo chỉ ra mô hình gia đình mở rộng còn phổ biến ở thôn người H’Mông, trong khi đó thôn Mường và Dao mô hình gia đình hạt nhân là chủ đạo. Nghiên cứu chỉ rõ sự thiếu bình đẳng với phái nữ trong việc thực hiện các quyền sở hữu và sử dụng tài sản, như ruộng đất xe máy, quyền đưa ra các quyết định kinh tế về vay vốn và đầu tư, và quyền tiếp cận thông tin. Báo cáo ghi nhận học vấn trung bình thấp của ba nhóm dân tộc Mường, Dao, H’Mông tương ứng là lớp 6, 5 và 4. Hơn nữa một tỷ lệ nữ không biết chữ khá lớn trong người H’Mông, trong khi ở người Mường không có ai mù chữ. Đặc biệt, báo cáo phát hiện khả năng bạo lực gia đình cao, đặc biệt trong người Dao và người H’Mông trong khi cả nam và nữ cho rằng nam có quyền đánh vợ có điều kiện. Sau khi nghe báo cáo, Hội nghị cũng điểm lại nội dung chính của luật bình đẳng giới và đối chiếu các quy định của luật với bức tranh bình đẳng giới của địa bàn nghiên cứu.

Qua phân tích các mục tiêu và các kết quả dự kiến của Chương trình 30a, và đối chiếu với bộ chỉ số CEDAW dành cho khu vực nông thôn, Hội nghị đã đưa ra một bản khuyến nghị với Ban chỉ đạo chương trình về việc duy trì và thu thập các chỉ số theo dõi và giám sát các chỉ số phát triển của chương trình có kết hợp với với chỉ số CEDAW. Khuyến nghị của Hội nghị được dùng làm cơ sở cho RDSC để đề nghị với Hội Phụ nữ huyện để thu thập một bộ số liệu ban đầu và mong đợi định kỳ thu thập thông tin này để có cơ sở làm báo cáo đánh giá tiến bộ trong việc thưc hiện bình đẳng giới. Đề nghị này đã được RDSC chuyển tới đại biểu của Hội phụ nữ ngay sau khi Hội nghị kết thúc. Hội nghị cũng khuyến nghị Gencomnet và Nhóm công tác dân tộc thiểu số khuyến nghị với Bộ LDTBXH, UB Dân tộc, và Ban chỉ đạo Chương trình 30a về việc lồng ghép các chỉ số giới trong hệ thống chỉ tiêu theo dõi đánh giá.

Các tham dự viên đã có dịp gặp gỡ và thảo luận với các báo cáo viên đươc mời từ Liên minh Các Hợp tác xã tỉnh Phú Thọ và Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Chủ tịch Liên minh đã báo cáo về Luật Hợp tác xã , Nghị định 151 về tổ hợp tác và chính sách thúc đẩy phát triển các tổ chức hợp tác của tỉnh Phú Thọ. Các đại biểu đã đặt các câu hỏi về thủ tục hình thành và sự hỗ trợ của liên minh với các tổ chức hợp tác được hình thành trong dự án. Các câu hỏi xoay quanh chủ đề về khả năng hình thành các hợp tác xã liên huyện, ví dụ về tín dụng và dịch vụ khuyến nông thú y. Nghị quyết 30a cũng nêu rõ việc hình thành và phát triển các hình thức hợp tác được coi là một trụ cột của phong trào xây dựng nông thôn mới, và là một đảm bảo cho định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường. Các mối quan hệ liên hệ và hợp tác đã hình thành giữa Liên minh các hợp tác và các tổ chức hợp tác và mạng lưới tín dụng, mạng lưới khuyến nông.

Trong phần thảo luận, đại diện Liên minh các HTX đã làm rõ khả năng hình thành hợp tác xã liên huyện: có khả năng hình thành HTX theo các quy mô hoạt động khác nhau. Tài sản của HTX có phần góp của nhà nước, và phần của xã viên. Về giải quyết tài sản công khi giải thể, được biết phần tài sản công của HTX không được chia, mà bàn giao cho chính quyền địa phương, sử dụng cho mục đích công (nhà trẻ), phần của nhà nước giao lại cho nhà nước. Luật HTX không hạn chế số hợp tác xã và loại hình số hợp tác xã làm. Về số vốn ban đầu của HTX, Liên minh cho biết trừ một số hoạt động, ví dụ tín dụng, nói chung luật không quy định mức vốn ban đầu.

Các đại biểu cũng có dịp trao đổi với các đại diện của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn về chương trình xây dựng nông thôn mới. Sở đã giới thiệu về hệ thống chỉ tiêu của các thôn, xã, huyện cần đạt để có thể được công nhận là đơn vị nông thôn mới.

Đại biểu từ Sở NNPTNT cho biết nguồn lực chủ yếu để thực hiện phong trào là các chương trình phát triển kinh tế xã hội của nhà nước, ví dụ chương trình 135. Các hợp phần của 135 bao gồm hợp phần phát triển hạ tầng, hỗ trợ pháp lý và đặc biệt nhất là phát triển sản xuất. Hợp phần này hỗ trợ giống cây trồng vật nuôi, hướng dẫn kỹ thuật (nông lâm ngư), hỗ trợ trang thiết bị sản xuất, chế biến máy cày, tuốt lúa (Định mức một hộ không quá 4 triệu đồng/máy cho cả nhóm), và xây dựng mô hình sản xuất .

Tổ chức thực hiện chương trình là Ban điều hành 135 chung của huyện. Nếu xã có năng lực sẽ giao cho xã các dự án. Cơ quan quản lý hợp phần phát triển sản xuất là Phòng nông nghiệp phát triển nông thôn. Một hỗ trợ là mô hình trồng mây nguyên liệu (20 Ha) với 50 hộ ở Thu Cúc. Chính sách gạo cho trồng rừng lâm nghiệp, chính sách phát triển trồng cây lâm nghiệp.

Đại biểu từ Mỹ Á bức xúc về tình trạng nhiều người dân tộc H’Mông không biết chữ và đường vào bản rất khó khăn (phải vượt qua 5 con suối). Theo phó trưởng bản, do cô giáo dạy không hết chương trình, học sinh không đọc được “chữ A chữ O khi đã học xong lớp 6 lớp 7”. Lãnh đạo thôn đã đề nghị hỗ trợ kịp thời giống, dụng cụ sản xuất, máy cày, máy tuốt. Về đất lâm nghiệp ở Mỹ Á, năm 1996, công ty lâm nghiệp, chiếm 95% đất lâm nghiệp. Dân không có đất làm, ruộng rất ít. Các hộ gia đình 5-7 khẩu, chỉ có 5-6 sào ruộng.

Sở cũng cho biết tỉnh có một tổ công tác đặc biệt của huyện để phát triển thôn Mỹ Á của xã Thu Cúc, do trong tỉnh Phú Thọ chỉ có hai thôn là nơi tới của người H’Mông từ huyện Văn Chấn (Yên Bái) sang xã Trung Sơn ở huyện Yên Lập và Thôn Mỹ Á xã Thu Cúc Huyện Tân Sơn.

Trong phần thảo luận, các tham dự viên đã trao đổi cởi mở với các đại biểu của Sở. Các vấn đề được đề cập sôi nổi là tình trạng thiếu đất sản xuất của bà con. Các vướng mắc cần giải quyết là những tranh chấp giữa lâm trường Tam sơn va nông dân. Cả hai bên cùng có sổ đỏ, và cùng tranh chấp đất đai. Đại diện của sở cho biết Tỉnh đang chỉ đạo để giải quyết vấn đề này. Các tham dự viên cũng đặt vấn đề người nghèo và cận nghèo mức sống rất gần nhau, chênh mức thu nhập chỉ ngang 1 kg gao, mà các hộ cận nghèo không được giúp đỡ.

Vấn đề theo dõi giám sát nguồn vốn hỗ trợ các hộ nghèo cũng được đặt ra, ví dụ vốn để giúp làm nhà, được vay vốn, nhưng hộ nghèo lại mua xe máy. Chương trình thiếu kiểm tra giám sát, không kiểm tra được việc sử dụng vốn. Ban Giám sát xóa nhà tạm hoạt động không có hiệu quả, không giám sát được. Một ví dụ được nêu là hiện tượng xóa nhà tạm bằng nhà đi mua của gia đình khác ở thôn khác. Một ví dụ khác đã được nêu là việc mua và giao máy sản xuất theo hồ sơ là máy Đông Phong D15, nhưng cộng đồng lại được giao máy D8 Trần Hưng Đạo đầu 150, và dàn máy không hoạt động được đúng chức năng và đúng công suất.

Nhận xét về kết quả Hội thảo, đại biểu người dân tộc H’Mông thôn Mỹ Á đã nói:” Hội thảo với tôi rất cần thiết vì đã giúp tôi có hiểu biết sâu sắc hơn về các chương trình xóa đói giảm nghèo của chính phủ với thôn bản của tôi”. Một đại biểu cấp xã nêu rõ, là đã biết về các chương trình này, nhưng chưa bao giờ có dịp hiểu và phân tích được các chính sách ở mức độ sâu sắc và chi tiết như ở hội thảo”. Còn một đại biểu khác cho biết: “hội thảo cho một cơ hội để người dân phản ánh tâm tư của mình về việc thực hiện các chính sách tại cộng đồng mình tới đại diện các cơ quan chính quyền”. ý kiến của nhóm đại biểu của huyện và tỉnh lại đề cao cơ hội giao tiếp với cán bộ cơ sở và những ý kiến phản ánh từ cộng đồng, mà công việc văn phòng hàng ngày ít khi giúp họ có các giao tiếp để biết rõ thêm về thực tế cuộc sống như vậy.

Số lượt đọc:  268  -  Cập nhật lần cuối:  14/09/2009 10:39:06 AM
Bài mới:  
Bài đã đăng:
Các bài được đọc nhiều nhất
14/09/2009 03:52' PM
Kỹ thuật chăn nuôi thỏ quy mô hộ gia đình tại Phú Thọ
23/11/2009 12:49' PM
Tham quan trại nuôi gà và nuôi giun tại xã Xuân Lũng
24/06/2006 08:54' AM
Viết Thu hoạch sau Cuộc Tham quan Học tập
15/06/2010 08:40' PM
Mẹo sử dụng và cài đặt font tiếng Việt cho SPSS 15 và 16
16/07/2006 09:01' AM
Kỹ thuật Trồng và Chăm sóc Tre Bát độ để lấy Măng
11/03/2009 05:51' AM
Chia sẻ kỹ thuật chăm sóc heo nái khi sanh sản và hậu sanh sản
11/02/2011 12:23' PM
Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới 2011-2020
11/02/2011 11:48' PM
Ghi chép các nghiệp vụ kế toán với các tài khoản chữ T
14/09/2009 10:06' PM
Kỹ thuật trồng nấm mèo
08/04/2009 05:33' AM
Vai trò giới trong phân công lao động gia đình ở Việt Nam qua những biến động xã hội
Đăng ký nhận tin thư
Họ và tên:
Email:
Tổng số lượt truy cập: 8.038.380
Số người trực tuyến: 70

©2004 Bản quyền Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn - RDSC
Số 2 nhà D, 45/39 Hào Nam, Đống Đa, Hà Nội,Việt Nam
Email: saola52@gmail.com - Phone: +84-913229762 - Fax: +84-4-3-512 1175
Website được xây dựng trên Công nghệ ViePortal của Hanoi Software JSC