RDSCVN
Đang tải dữ liệu...

Giới thiệu RDSC    |    Tin tức sự kiện    |    Diễn đàn    |    IDMA    |    Video    |    Âm thanh    |    Gallery    |    Slide show

Trưng cầu ý kiến
Dành cho các anh/chị kế toán.
Trong thực tế, Anh/chị dùng phần mềm kế toán chuyên dụng chủ yếu để làm việc gì? Không chọn quá 3 phương án.
 
Hỗ trợ trực tuyến
Chia sẻ kinh nghiệm nâng cao năng lực

Cách quản lý tài nguyên của bà con dân tộc Chiang Mai, và Chiang Rai của Thailand

Huyen

Quản lý tài nguyên rừng

Các cộng đồng mà đoàn thăm quan có một đặc điểm chung về điều kiện tự nhiên cũng như xã hội là họ đều là dân tộc thiểu số, sống ở các thung lũng, xung quanh là rừng. Rừng là tài sản thiêng liêng của họ.

Bản Hi-lat-nai là bản đầu tiên đoàn thăm quan tới trong chặng hành trình này. Nằm ở vùng núi biên giới phía bắc Thái Lan, cả bản có 20 hộ gia đình với khoảng hơn 100 khẩu. Dân bản tự gọi họ là người Pa-cai-jo, còn người Thái gọi họ là Ka-ren. Dân bản sống tại đây đã được 4 thế hệ. Nguồn thu chính của dân bản là lúa nước, luá rẫy, và thu hoạch và bán các lâm sản ngoài gỗ. Rừng là một nguồn sống chính của họ.

Cách đây 12 năm, Chính phủ có kế hoạch quy hoạch vùng rừng mà cộng đồng hiện đang quản lý thành vườn quốc gia, mà theo đó, dân bản sẽ không được sử dụng tài nguyên rừng. Kế hoạch này đã không được cộng đồng ủng hộ do dân bản sẽ mất quyền khai thác các sản phẩm từ rừng, là nguồn thu nhập chính của họ. Dân bản đã cử đại diện của mình gặp gỡ các nhà quản lý của nhà nước từ cấp liên thôn đến cấp trung ương. Trong các cuộc đối thoại này, đại diện của bản đã thuyết phục nhà nước giao rừng cho cộng đồng tự quản lý. Với rất nhiều công sức, cuối cùng, cộng đồng cũng đã được nhà nước đồng ý cho quản lý rừng của mình với diện tích là 10.000 Rai.

Cả cộng đồng đã hình thành với nhau những quy ước về bảo vệ và khai thác rừng, đảm bảo tính bền vững. Những quy ước này được hình thành dựa trên các tri thức bản địa, theo đó cây rừng được để phát triển theo các quá trình tự nhiên. Dân trong thôn bản thống nhất không được chặt gỗ để bán, và săn bắn trong rừng. Họ được trồng và thu hoạch cây ăn trái và chè, tất nhiên là họ có thu hoạch rau rừng. Họ nhận biết những loại cây nào không trồng lại được và nghiêm cấm việc chặt phá các loại cây đó. Người dân bản nói, thú rừng quay trở lại là dấu hiệu của rừng đã được hồi phục. Phương pháp quản lý rừng bền vững của cộng đồng đã được co quan lâm nghiệp của chính quyền thừa nhận.

Chúng tôi được đến xem một trong những khu rừng thiêng của người Ka-ren. Trong khu rừng này, có những cây mà người dân đã treo dây rốn của những đứa trẻ mới sinh lên đó. Sau ba ngày, dây rốn đó được bỏ xuống. Người ta chọn các cây to khoẻ để treo với ý mong đợi cho cháu bé khoẻ mạnh. Ý nghiã của việc làm này là để linh hồn của đứa trẻ gắn với rừng, và qua đó hình thành mối gắn bó giữa con người và cây rừng . Cây trong khu rừng thiêng thì không ai được phép chặt.

Tình cảm của người dân với rừng rất gắn bó. Tôi thấy có những cây gỗ to và những cây gỗ quý, được người dân dùng tấm dây vải màu vàng buộc xung quanh gốc của chúng. Theo giải thích của bà con, đó cũng giống như cách sắc phong một chức vị cao quý cho một người. Rừng được cộng đồng quản lý có rất nhiều tầng cây. nhờ đó rừng có tác dụng ngăn chặn xói mòn của nước mưa, giữ đất màu mỡ và nguồn nước ngầm rất tốt.

Khi đến thăm bản Huây -Uỷ-Khang, chúng tôi đã gặp phong tục giữ rừng nhưng không theo kiểu rừng thiêng của bà con dân tộc Ka-ren. Khu rừng của họ trước đây đã bị một công ty khai thác gần cạn kiệt, và sau đó nhà nước định đưa và khu rừng quốc gia. Bà con thôn bản đã vận động đề nghị nhà nước giao rừng cho bản quản lý theo cách của cộng đồng. Sau 10 năm duy trì trồng thêm, tu bổ theo các phong tục tập quán của dân tộc và vận dụng tri thức bản địa trong việc sử dụng và bảo vệ rừng, khu rừng với diện tích 30rai của họ đã phát triển trở lại với nhiều tầng cây như rừng tự nhiên.

Cũng tại bản Me-sa-mải, chúng tôi có dịp đi thăm quan khu vườn rừng của ông Jo-jo do ông kiên trì đầu tư đã được gần 30 năm trên một quả núi. Khu vườn rừng của ông gồm nhiều tầng cây, từ cây gỗ lớn, cây tầm thấp, cây bụi, dây leo và những cây thuốc. Những cây này được mọc và phát triển tự nhiên. Trên các đường băng theo kiểu ruộng bậc thang được gia cố bằng đá hộc, ông trồng thêm các cây cà phê. Để chống xói mòn, khu vườn được thành các băng và kè đá dưới chân. Đất trên vườn đồi rất ẩm và rất nhiều mùn. Trước kia, ông còn đào hố để lấy nước tưới, nhưng giờ thì độ ẩm tự nhiên cũng đủ cho cây trồng, và không cần tưới. Đây là quả là một mô hình rất hiệu quả trong việc bảo vệ đất, rừng, nguồn nước. Rõ ràng, để có kết quả này, người nông dân cần có một tầm nhìn xa, và có đầu từ dài hạn cho mảnh đất của mình. Và bù đắp lại, đất và rừng cũng phục vụ cho chủ nhân của nó một cách bền vững và lâu dài.

Hệ thống canh tác

Chúng tôi thấy việc canh tác lúa nước và trồng rẫy của cộng đồng người Ka-ren ở bản Hi-lat-nai hoàn toàn theo phương thức sản xuất sạch. Bà con không dùng phân hoá học và hoá chất để trừ sâu và bệnh cây trồng. Các giống lúa là giống truyền thống. Một năm bà con chỉ cấy một vụ, khi bắt đầu mùa mưa thì họ bắt đầu cấy, từ tháng 5 đến tháng 10. Sau khi thu hoạch xong, họ để ruộng tự phục hồi và thả trâu bò ra đó tự chăn thả. Phân trâu bò cùng với rơm, gốc rạ sẽ là một loại “phân ủ” hữu cơ rất tốt cho đất. Ngoài loại phân hữu cơ này, họ không bón một loại phân hoá học nào khác. Người dân ở bản cũng không bao giờ phun thuốc hoá học. Nếu lúa bị sâu thì họ chỉ cần phun rượu trắng, (có lẽ đây chỉ mang tính chất làm phép). Chúng tôi nghĩ, do bà con trồng lúa truyền thống và chỉ trồng một vụ nên việc tích luỹ của sâu bệnh trên đồng ruộng là rất ít, chưa đến mức phải phòng trừ. Còn để phòng trừ chim và chuột thì họ sử dụng các bẫy cơ học. Năng suất lúa của họ được tính cũng bà con miền núi bên mình là tính theo lượng thóc giống. Ở Bản này, cứ gieo 45 cân giống thì thu được 3 tạ thóc thịt.

Theo mấy người dân bản hướng dẫn tham quan kể, trước kia, đã có lần khuyến nông của nhà nước đã đưa đến và trồng thử ở cộng đồng một giống lúa mới. Nhưng giống đó không trổ được bông và cho hạt. Bà con địa phương cũng không muốn trồng các giống cao sản mà theo cách của khuyến nông khuyến cáo thì dân bản sẽ không chủ động được giống, cũng như phải phụ thuộc các nhà cung cấp vật tư nông nghiệp khác. Ở Việt Nam, phương thức canh tác có thể phải thâm canh và phải dùng giống năng suất cao, và nhiều đầu vào như phân bón thuốc trừ sâu do do sức ép về năng suất và sản lượng để đảm bảo cho số dân quá đông trên một diện tích quá hẹp.

Việc trồng rẫy của dân bản được thực hiện theo kiểu du canh. Một rẫy, sau khi trồng một năm sẽ được bỏ hoá trong 8 năm. Do đó, đất có đủ thời gian để phục hoá, một số loại cây bụi và gỗ nhỏ cũng mọc lại. Khi đốt rẫy, đất lại có thêm chất dinh dưỡng. Quá trình canh tác rẫy của dân bản cũng không hề có phân và thuốc hoá học, không làm cho đất bị kiệt quệ đi. Phương thức canh tác rẫy như thế này, đồng bào người dân tộc tại Thanh Sơn cũng đã từng áp dụngvà duy trì trong nhiều năm. Tuy nhiên, khi có chính sách cấm du canh, du cư, đốt nương làm rẫy, diện tích đất của bà con bị thu hẹp lại thì phương thức này không còn được duy trì.

Tại bản Me-sa-mải, đoàn thăm quan chúng tôi có dịp tìm hiểu một phương pháp canh tác có tác dụng bảo vệ tài nguyên đất, nước, và rừng một cách bền vững. Ông trưởng bản cho biết Me-sa-mải là một bản người H’Mông với 200 hộ và khoảng 1000 dân. Trước kia, bà con sống chủ yếu bằng việc trồng cây thuốc phiện. Khi cây thuốc phiện bị cấm, bản được chính phủ hỗ trợ để trồng cây ăn quả và rau theo hướng hàng hoá để có nguồn thu nhập thay thê. Tuy nhiên, những vị lãnh đạo bản cũng nhanh chóng nhận thấy theo theo cách sản xuất hàng hoá, bà con bị lệ thuộc nhiều vào bên cung cấp phân bón và thuốc sâu. Dân bản có phương tiện để mang các sản phẩm của mình bán tại Băng Cốc và Chiềng Mai.

Một phương thức bảo vệ tài nguyên đất nữa mà đoàn tham quan được tiếp cận là phương thức làm vườn nhưng không xới cỏ của người dân ở bản Hayuyoang. Ở đây, người dân có những khu vườn được đặt tên rất lạ: “Vườn Lười”.Đó là khu vườn trồng hồng. Trong những năm đầu, khi cây mới trồng, người dân còn làm cỏ. Tuy nhiên, khi cây lớn, họ không làm cỏ mà để cỏ mọc tự nhiên. Theo giải thích của bà con dân bản thì cách làm này có tác dụng giữ ẩm cho đất, tránh xói mòn.

Ở vùng Thanh Thuỷ và Thanh Sơn cộng đồng không làm như vậy vì nếu để cỏ mọc tự nhiên như thế thì nó sẽ cạnh tranh dinh dưỡng, nước và ánh sáng với cây trồng và lại là nơi trú ngụ của sâu bệnh gây hại, và do vậy năng suất cây trồng thường thấp. Người dân thường dùng biện pháp cơ học như xới, cắt, đào hoặc biện pháp phun thuốc hoá học để diệt cỏ dại. Trong đó, biện pháp cơ học trong trừ cỏ dại ở vùng đất dốc lại là một trong những nguyên nhân gây xói mòn.
Số lượt đọc:  159  -  Cập nhật lần cuối:  08/02/2009 02:32:54 PM
Bài mới:  
Kỹ thuật nuôi giun quế
19/01/2012 12:10' PM
Bài đã đăng:
Các bài được đọc nhiều nhất
23/11/2009 12:49' PM
Tham quan trại nuôi gà và nuôi giun tại xã Xuân Lũng
14/09/2009 03:52' PM
Kỹ thuật chăn nuôi thỏ quy mô hộ gia đình tại Phú Thọ
26/11/2006 01:19' AM
Tài liệu về Chương trình 135 Giai đoạn 2 (2006-2010)
08/04/2009 05:33' AM
Vai trò giới trong phân công lao động gia đình ở Việt Nam qua những biến động xã hội
16/07/2006 09:01' AM
Kỹ thuật Trồng và Chăm sóc Tre Bát độ để lấy Măng
24/06/2006 08:54' AM
Viết Thu hoạch sau Cuộc Tham quan Học tập
14/09/2009 10:06' PM
Kỹ thuật trồng nấm mèo
15/06/2010 08:40' PM
Mẹo sử dụng và cài đặt font tiếng Việt cho SPSS 15 và 16
11/03/2009 05:51' AM
Chia sẻ kỹ thuật chăm sóc heo nái khi sanh sản và hậu sanh sản
21/02/2008 09:24' AM
Hướng dẫn lập và sử dụng trang web qua My.opera.com
Đăng ký nhận tin thư
Họ và tên:
Email:
Tổng số lượt truy cập: 5.776.109
Số người trực tuyến: 36

©2004 Bản quyền Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn - RDSC
Số 2 nhà D, 45/39 Hào Nam, Đống Đa, Hà Nội,Việt Nam
Email: rdsc@netnam.vn - Phone: +84-4-3-512 1175 - Fax: +84-4-3-512 1175
Website được xây dựng trên Công nghệ ViePortal của Hanoi Software JSC