Quản lý tài nguyên rừng
Các cộng đồng mà đoàn thăm quan có một đặc điểm chung về điều kiện tự nhiên cũng như xã hội là họ đều là dân tộc thiểu số, sống ở các thung lũng, xung quanh là rừng. Rừng là tài sản thiêng liêng của họ.
Bản Hi-lat-nai là bản đầu tiên đoàn thăm quan tới trong chặng hành trình này. Nằm ở vùng núi biên giới phía bắc Thái Lan, cả bản có 20 hộ gia đình với khoảng hơn 100 khẩu. Dân bản tự gọi họ là người Pa-cai-jo, còn người Thái gọi họ là Ka-ren. Dân bản sống tại đây đã được 4 thế hệ. Nguồn thu chính của dân bản là lúa nước, luá rẫy, và thu hoạch và bán các lâm sản ngoài gỗ. Rừng là một nguồn sống chính của họ.
Cách đây 12 năm, Chính phủ có kế hoạch quy hoạch vùng rừng mà cộng đồng hiện đang quản lý thành vườn quốc gia, mà theo đó, dân bản sẽ không được sử dụng tài nguyên rừng. Kế hoạch này đã không được cộng đồng ủng hộ do dân bản sẽ mất quyền khai thác các sản phẩm từ rừng, là nguồn thu nhập chính của họ. Dân bản đã cử đại diện của mình gặp gỡ các nhà quản lý của nhà nước từ cấp liên thôn đến cấp trung ương. Trong các cuộc đối thoại này, đại diện của bản đã thuyết phục nhà nước giao rừng cho cộng đồng tự quản lý. Với rất nhiều công sức, cuối cùng, cộng đồng cũng đã được nhà nước đồng ý cho quản lý rừng của mình với diện tích là 10.000 Rai.
Cả cộng đồng đã hình thành với nhau những quy ước về bảo vệ và khai thác rừng, đảm bảo tính bền vững. Những quy ước này được hình thành dựa trên các tri thức bản địa, theo đó cây rừng được để phát triển theo các quá trình tự nhiên. Dân trong thôn bản thống nhất không được chặt gỗ để bán, và săn bắn trong rừng. Họ được trồng và thu hoạch cây ăn trái và chè, tất nhiên là họ có thu hoạch rau rừng. Họ nhận biết những loại cây nào không trồng lại được và nghiêm cấm việc chặt phá các loại cây đó. Người dân bản nói, thú rừng quay trở lại là dấu hiệu của rừng đã được hồi phục. Phương pháp quản lý rừng bền vững của cộng đồng đã được co quan lâm nghiệp của chính quyền thừa nhận.
Chúng tôi được đến xem một trong những khu rừng thiêng của người Ka-ren. Trong khu rừng này, có những cây mà người dân đã treo dây rốn của những đứa trẻ mới sinh lên đó. Sau ba ngày, dây rốn đó được bỏ xuống. Người ta chọn các cây to khoẻ để treo với ý mong đợi cho cháu bé khoẻ mạnh. Ý nghiã của việc làm này là để linh hồn của đứa trẻ gắn với rừng, và qua đó hình thành mối gắn bó giữa con người và cây rừng . Cây trong khu rừng thiêng thì không ai được phép chặt.
Tình cảm của người dân với rừng rất gắn bó. Tôi thấy có những cây gỗ to và những cây gỗ quý, được người dân dùng tấm dây vải màu vàng buộc xung quanh gốc của chúng. Theo giải thích của bà con, đó cũng giống như cách sắc phong một chức vị cao quý cho một người. Rừng được cộng đồng quản lý có rất nhiều tầng cây. nhờ đó rừng có tác dụng ngăn chặn xói mòn của nước mưa, giữ đất màu mỡ và nguồn nước ngầm rất tốt.
Khi đến thăm bản Huây -Uỷ-Khang, chúng tôi đã gặp phong tục giữ rừng nhưng không theo kiểu rừng thiêng của bà con dân tộc Ka-ren. Khu rừng của họ trước đây đã bị một công ty khai thác gần cạn kiệt, và sau đó nhà nước định đưa và khu rừng quốc gia. Bà con thôn bản đã vận động đề nghị nhà nước giao rừng cho bản quản lý theo cách của cộng đồng. Sau 10 năm duy trì trồng thêm, tu bổ theo các phong tục tập quán của dân tộc và vận dụng tri thức bản địa trong việc sử dụng và bảo vệ rừng, khu rừng với diện tích 30rai của họ đã phát triển trở lại với nhiều tầng cây như rừng tự nhiên.
Cũng tại bản Me-sa-mải, chúng tôi có dịp đi thăm quan khu vườn rừng của ông Jo-jo do ông kiên trì đầu tư đã được gần 30 năm trên một quả núi. Khu vườn rừng của ông gồm nhiều tầng cây, từ cây gỗ lớn, cây tầm thấp, cây bụi, dây leo và những cây thuốc. Những cây này được mọc và phát triển tự nhiên. Trên các đường băng theo kiểu ruộng bậc thang được gia cố bằng đá hộc, ông trồng thêm các cây cà phê. Để chống xói mòn, khu vườn được thành các băng và kè đá dưới chân. Đất trên vườn đồi rất ẩm và rất nhiều mùn. Trước kia, ông còn đào hố để lấy nước tưới, nhưng giờ thì độ ẩm tự nhiên cũng đủ cho cây trồng, và không cần tưới. Đây là quả là một mô hình rất hiệu quả trong việc bảo vệ đất, rừng, nguồn nước. Rõ ràng, để có kết quả này, người nông dân cần có một tầm nhìn xa, và có đầu từ dài hạn cho mảnh đất của mình. Và bù đắp lại, đất và rừng cũng phục vụ cho chủ nhân của nó một cách bền vững và lâu dài.
Hệ thống canh tác
Chúng tôi thấy việc canh tác lúa nước và trồng rẫy của cộng đồng người Ka-ren ở bản Hi-lat-nai hoàn toàn theo phương thức sản xuất sạch. Bà con không dùng phân hoá học và hoá chất để trừ sâu và bệnh cây trồng. Các giống lúa là giống truyền thống. Một năm bà con chỉ cấy một vụ, khi bắt đầu mùa mưa thì họ bắt đầu cấy, từ tháng 5 đến tháng 10. Sau khi thu hoạch xong, họ để ruộng tự phục hồi và thả trâu bò ra đó tự chăn thả. Phân trâu bò cùng với rơm, gốc rạ sẽ là một loại “phân ủ” hữu cơ rất tốt cho đất. Ngoài loại phân hữu cơ này, họ không bón một loại phân hoá học nào khác. Người dân ở bản cũng không bao giờ phun thuốc hoá học. Nếu lúa bị sâu thì họ chỉ cần phun rượu trắng, (có lẽ đây chỉ mang tính chất làm phép). Chúng tôi nghĩ, do bà con trồng lúa truyền thống và chỉ trồng một vụ nên việc tích luỹ của sâu bệnh trên đồng ruộng là rất ít, chưa đến mức phải phòng trừ. Còn để phòng trừ chim và chuột thì họ sử dụng các bẫy cơ học. Năng suất lúa của họ được tính cũng bà con miền núi bên mình là tính theo lượng thóc giống. Ở Bản này, cứ gieo 45 cân giống thì thu được 3 tạ thóc thịt.
Theo mấy người dân bản hướng dẫn tham quan kể, trước kia, đã có lần khuyến nông của nhà nước đã đưa đến và trồng thử ở cộng đồng một giống lúa mới. Nhưng giống đó không trổ được bông và cho hạt. Bà con địa phương cũng không muốn trồng các giống cao sản mà theo cách của khuyến nông khuyến cáo thì dân bản sẽ không chủ động được giống, cũng như phải phụ thuộc các nhà cung cấp vật tư nông nghiệp khác. Ở Việt Nam, phương thức canh tác có thể phải thâm canh và phải dùng giống năng suất cao, và nhiều đầu vào như phân bón thuốc trừ sâu do do sức ép về năng suất và sản lượng để đảm bảo cho số dân quá đông trên một diện tích quá hẹp.
Việc trồng rẫy của dân bản được thực hiện theo kiểu du canh. Một rẫy, sau khi trồng một năm sẽ được bỏ hoá trong 8 năm. Do đó, đất có đủ thời gian để phục hoá, một số loại cây bụi và gỗ nhỏ cũng mọc lại. Khi đốt rẫy, đất lại có thêm chất dinh dưỡng. Quá trình canh tác rẫy của dân bản cũng không hề có phân và thuốc hoá học, không làm cho đất bị kiệt quệ đi. Phương thức canh tác rẫy như thế này, đồng bào người dân tộc tại Thanh Sơn cũng đã từng áp dụngvà duy trì trong nhiều năm. Tuy nhiên, khi có chính sách cấm du canh, du cư, đốt nương làm rẫy, diện tích đất của bà con bị thu hẹp lại thì phương thức này không còn được duy trì.
Tại bản Me-sa-mải, đoàn thăm quan chúng tôi có dịp tìm hiểu một phương pháp canh tác có tác dụng bảo vệ tài nguyên đất, nước, và rừng một cách bền vững. Ông trưởng bản cho biết Me-sa-mải là một bản người H’Mông với 200 hộ và khoảng 1000 dân. Trước kia, bà con sống chủ yếu bằng việc trồng cây thuốc phiện. Khi cây thuốc phiện bị cấm, bản được chính phủ hỗ trợ để trồng cây ăn quả và rau theo hướng hàng hoá để có nguồn thu nhập thay thê. Tuy nhiên, những vị lãnh đạo bản cũng nhanh chóng nhận thấy theo theo cách sản xuất hàng hoá, bà con bị lệ thuộc nhiều vào bên cung cấp phân bón và thuốc sâu. Dân bản có phương tiện để mang các sản phẩm của mình bán tại Băng Cốc và Chiềng Mai.
Một phương thức bảo vệ tài nguyên đất nữa mà đoàn tham quan được tiếp cận là phương thức làm vườn nhưng không xới cỏ của người dân ở bản Hayuyoang. Ở đây, người dân có những khu vườn được đặt tên rất lạ: “Vườn Lười”.Đó là khu vườn trồng hồng. Trong những năm đầu, khi cây mới trồng, người dân còn làm cỏ. Tuy nhiên, khi cây lớn, họ không làm cỏ mà để cỏ mọc tự nhiên. Theo giải thích của bà con dân bản thì cách làm này có tác dụng giữ ẩm cho đất, tránh xói mòn. Ở vùng Thanh Thuỷ và Thanh Sơn cộng đồng không làm như vậy vì nếu để cỏ mọc tự nhiên như thế thì nó sẽ cạnh tranh dinh dưỡng, nước và ánh sáng với cây trồng và lại là nơi trú ngụ của sâu bệnh gây hại, và do vậy năng suất cây trồng thường thấp. Người dân thường dùng biện pháp cơ học như xới, cắt, đào hoặc biện pháp phun thuốc hoá học để diệt cỏ dại. Trong đó, biện pháp cơ học trong trừ cỏ dại ở vùng đất dốc lại là một trong những nguyên nhân gây xói mòn.Nguồn:
Huyen Số lượt đọc:
159
-
Cập nhật lần cuối:
08/02/2009 02:32:54 PM Bài mới:
 Kỹ thuật nuôi giun quế19/01/2012 12:10' PM Ba năm lại đây, RDSC Phú Thọ triển khai nuôi giun quế thử nghiệm ở quy mô nhỏ như một hợp phần của hệ thống canh tác tổng hợp với con gà làm trung tâm. Trong tháng 11 năm 2011, Dự án Mội trường và Vệ sinh Cộng đồng đã hỗ trợ RDSC Phú thọ tổ chức toạ đàm phổ biến kiến thức nuôi giun và ủ phân vi sinh cho gần 400 nông dân với hơn một nửa là phụ nữ ) tại 6 xã đối tác của RDSC: Phượng Mao, Yên Mao, Tu Vũ, Yên Lương và Yên Lãng, Yên Sơn và Tân Lập. Bài này giới thiệu nội dung chia sẻ về nuôi giun quế của dự án vệ sinh môi trường và cộng đồng. Đón đàn thỏ giống thứ hai về trạm Yên Lương 21/08/2011 10:55' AM Ngày 19 tháng 8 năm 2011, Trạm Thực nghiệm Yên Lương đã tiếp nhận đàn thỏ thứ hai với 20 thỏ giống Newzealand, gồm 15 thỏ cái và 5 thỏ đực, từ Trung tâm Dê thỏ Ba Vì. Trước đó một tháng, Trạm đã nuôi 12 con thỏ giống (3 đực và 9 cái). RDSC đã phỏng vấn anh Nguyễn Đình Ninh, chuyên viên kinh tế nông nghiệp của Trạm về việc mở rộng quy mô đàn thỏ. Những lựa chọn trong baì tóan nuôi gà giống của một gia đình thôn Lục Lương 18/06/2011 03:06' PM Sau tết năm 2011, anh chị Kim-Đào ở thôn Lục lương đã nuôi và bán được hai lứa gà con thành công. Anh chị đã học được toàn bộ kinh nghiệm chăn nuôi gà con và gà thịt tại trạm thực nghiệm của Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn. Anh chị đã có những lựa chọn cho hướng đi trong chăn nuôi gà của gia đình theo những tính toán kinh tế. Bà con bản Bồ Xồ thăm quan tổ Thổ Cẩm ở bản Suối Nhúng 28/06/2009 09:05' PM Sau khi thảo luận với lãnh đạo và phụ nữ thôn Bồ Xồ về khả năng phát triển nghề thêu thổ cẩm thành sản xuất hàng hóa để tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho chị em người Dao, Dự án của RDSC đã tổ chức cho đại diện nhóm người dân thôn Bồ Xồđi tham quan Tổ dệt thổ cẩm của phụ nữ Dao Tiền tại bản Suối Nhúng, xã Phúc Sạn, huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình vào ngày 08 tháng 06 năm 2009. Mục tiêu của đoàn tham quan là a) tìm hiểu phương thức sản xuất, và tổ chức quan lý của tổ thổ cẩm, b) tìm hiểu phương thức tiếp thị sản phẩm và c) thảo luận về khả năng Tổ Thổ cấm Suối Nhúng hỗ trợ kỹ thuật qua chế độ kèm cặp cho nhóm thổ cẩm thôn Bồ Xồ. Kết quả hoạt động của mạng lưới tài chính vi mô Phú Thọ 27/04/2009 01:52' PM RDSC Phú Thọ trân trọng giới thiệu kết quả hoạt động của các thành viên mạng lưới tài chính vi mô Phú thọ đang hoạt động tại ba huyện Thanh Thủy, Thanh Sơn và Tân Sơn, Phú Thọ. Các số liệu này chưa tính đến kết quả của hai Quỹ tín dụng phụ nữ của ba xã Phượng Mao, Yến Mao và Tu Vũ của Thanh Thủy. Ba tổ chức này đều đã trên 10 năm kinh nghiệm hoạt động bền vững. Bài đã đăng: Thông báo tổ chức Hôi thảo Đánh giá ba năm thực hiện Dự án Tăng cường sự Tham gia của Nhân dân trong Phát triển Kinh tế Xã hội 29/10/2007 01:46' PM Với sự hỗ trợ tài chính của ICCO, Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn thực hiện dự án Tăng cường sự Tham gia của Nhân dân trong Phát triển Kinh tế Xã hội tại Huyện Thanh Thuỷ và Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ từ tháng 10 năm 2004. Dự án kéo dài trong ba năm và thực hiện trên địa bàn 5 xã huyện Thanh Thuỷ, và 5 xã huyện Thanh Sơn (nay là huyện Tân Sơn và Thanh Sơn). Trong hai ngày 14 -16 tháng 11 năm 2007, tại Ba Vì, Trung tâm RDSC tổ chức hội thảo đề đánh giá cuối kỳ dự án này. Đại biểu các đoàn thể xã Đak-Rwa,Kon Tum thăm dự án RDSC tại Thanh Sơn 25/06/2007 08:15' AM Trong năm 2006 và năm 2007, RDSC Kon Tum có các hoạt động cùng hỗ trợ nhân dân hai thôn xã Đăk R’wa (Thị xã Kon Tum) phát triển kinh tế. Trong 2006, RDSC đã giúp giống và kỹ thuật cho 6 hộ thôn Kon Tu nuôi 48 con thỏ thịt. Cùng năm, Trung tâm cũng hỗ trợ 4 hộ nuôi 11 dê ở thôn Kon K’lo. Để giao lưu trao đổi và học hỏi giữa các vùng dân tộc và phát triển kinh tế, RDSC đã tổ chức một cuộc tham quan để lãnh đạo các đoàn thể của xã Dak R'wa đến traođổi kinh nghiệm dự án với vùng dự án của RDSC tại Phú thọ. Ngày 1 đến 6 tháng 4 năm 2007, đoàn tham quan xã Đak R’wa tỉnh Kon tum gồm Chủ tịch Hội Nông dân xã, Phó Chủ Tịch Hội Phụ Nữ xã, và Bí thư Đoàn Thanh niên đã thăm huyện Thanh Sơn. Bài này phản ánh kết quả cuộc họp thảo luận sau chuyến tham quan của đoàn đại biểu với các cán bộ của RDSC Kon Tum. Thông báo Tổ chức Hội thảo ”Những bài học Tín dụng Giảm nghèo cho Phụ nữ Nông thôn” 20/06/2007 08:59' PM Hà nội, ngày 21 tháng 6 năm 2007
Ban Tổ chức Hội thảo ”Những Bài học Tín dụng Giảm nghèo cho Phụ nữ Nông thôn” xin trân trọng kính mời các đại biểu từ các cơ quan quan tâm đăng ký tham dự. Hội thảo dự kiến sẽ được tổ chức trong 2 ngày, từ ngày 12 đến 13 tháng 07 năm 2007 tại Trung tâm Điều dưỡng Cán bộ Lão thành Cách mạng, xã Bảo Yên, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ.
Hội thảo Chia sẻ Kinh nghiệm Khuyến nông cùng Người nghèo, Phụ nữ và Đồng bào dân tộc Thiểu số đã Thành công Xuất sắc! 30/01/2007 01:39' PM RDSC.- 29/1/07.
Để chia sẻ kinh nghiệm khuyến nông cùng người nghèo, phụ nữ và đồng bào dân tộc thiểu số, Trung tâm Dịch vụ Phát triển Nông thôn (RDSC) cùng UBND huyện Thanh Thuỷ và Thanh Sơn đã tổ chức Hội thảo trong ba ngày 23-25 tháng 1 năm 207 tại xã Bảo Sơn huyện Thanh Thuỷ.
Phát biểu tại Hội thảo, lãnh đạo Trung tâm Khuyến nông tỉnh Phú Thọ chỉ rõ việc tổng kết các kinh nghiệm khuyến nông cùng người nghèo là một việc làm rất mới với ngành khuyến nông trong tỉnh. Các bài học khuyến nông cùng người nghèo và duy trì và mở rộng bền vững các kết quả khuyến nông có ý nghĩa thực tiễn và lý luận sâu sắc với ngành khuyến nông trong tỉnh.
Hội thảo đã khuyến nghị tổ chức tiếp trong năm 2007 việc chia sẻ các bài học kinh nghiệm tốt đã được xác nhận là thành công trong nhiều năm với rộng rãi các cán bộ khuyến nông cơ sở. Hội thảo cũng đề nghị tổ chức để các tổ chức cộng đồng báo cáo về cách tiếp cận có hiệu quả trong khuyến nông cùng người nghèo và bà con dân tộc với lãnh đạo Đảng và chính quyền địa phương để có chủ chương chính thức về vận dụng các tiếp cận khuyến nông và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp cùng người nghèo và bà con dân tộc cho một quy mô rộng rãi hơn. Chương trình tham quan của Hội thảo Chia sẻ Kinh nghiệm Khuyến nông với người nghèo 23-25/1/07 15/01/2007 12:32' PM Kèm theo đây là Chương trình tham quan của Hội thảo bao gồm hai tuyến tại ha huyện Thanh Thủy và Thanh sơn. Các đại biểu đi thăm và trao đổi với các hộ nông dân hoặc tổ chức nông dân về các hoạt động khuyến nông do các cơ quan khuyến nông nhà nước, các tổ chức phi chính phủ,và tự người dân thực hiện. Mỗi đại biểu đăng ký tham quan theo một tuyến vào lúc 8:00 tới 8:30 ngày 23 tháng 1 năm 2007 khi đăng ký đại biểu. BTC. |